Từ loại trái cây đặc sản được ưa chuộng tại thị trường nội địa, bưởi da xanh Việt Nam đang từng bước chinh phục các thị trường xuất khẩu khó tính nhờ thay đổi tư duy sản xuất, nâng cao chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn kiểm dịch nghiêm ngặt.
Việc xuất khẩu thành công sang Australia - một trong những thị trường có yêu cầu kiểm dịch thực vật khắt khe nhất thế giới - mở ra cơ hội để bưởi da xanh khẳng định thương hiệu, nâng cao giá trị trên thị trường quốc tế.
Cuộc cách mạng trong tư duy canh tác
Theo thống kê, cả nước hiện có khoảng 100.000ha bưởi, trong đó phần lớn là bưởi da xanh. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, loại cây này tập trung chủ yếu ở Đồng Tháp và Vĩnh Long với tổng diện tích gần 15.000ha.
Ngành nông nghiệp đã định hướng sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ... nhằm nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Để chinh phục các thị trường khó tính, nhiều hợp tác xã đã thay đổi phương thức canh tác theo hướng an toàn sinh học.
Tại Hợp tác xã Thương mại Dịch vụ Nông nghiệp sạch Mỹ Phong (Đồng Tháp), toàn bộ 50ha bưởi phục vụ xuất khẩu của 124 thành viên đều được sản xuất theo quy trình nghiêm ngặt, sử dụng phân hữu cơ, bảo đảm năng suất và chất lượng.
Theo bà Trần Thanh Phong, Giám đốc hợp tác xã, đơn vị đã liên kết với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào đạt chuẩn, đồng thời hỗ trợ nông dân kỹ thuật sản xuất. Nhờ đó, vùng bưởi của hợp tác xã đã được cấp mã số vùng trồng để xuất khẩu sang Mỹ từ năm 2022 và gần đây là Australia. Hằng năm, hợp tác xã tổ chức hàng trăm lượt tư vấn kỹ thuật và nhiều hội thảo chuyển giao quy trình chăm sóc cây trồng.
Ông Vương Văn Bảy, thành viên hợp tác xã, cho biết để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, người trồng phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật, bảo đảm trái bưởi đạt trọng lượng từ 1,2-1,8 kg/quả và không tồn dư thuốc bảo vệ thực vật khi thu hoạch. Đây là yếu tố then chốt để xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Bên cạnh nâng cao chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc, quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và nhật ký sản xuất đang trở thành yêu cầu bắt buộc.
Tại Đồng Tháp, địa phương hiện có hơn 4.300ha bưởi, sản lượng khoảng 65.000 tấn/năm; đã xây dựng 23 vùng trồng với 31 mã số, tổng diện tích hơn 470ha, trong đó có 6 vùng đủ điều kiện xuất khẩu sang Mỹ và Hàn Quốc.
Trong khi đó, Vĩnh Long với diện tích 13.800ha bưởi da xanh đã quản lý 233 mã số vùng trồng trên hơn 1.200ha, phục vụ xuất khẩu sang các thị trường như Mỹ, Hàn Quốc, Australia và Trung Quốc.
Theo ông Lê Chí Thiện, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Đồng Tháp, ngành nông nghiệp thường xuyên phối hợp với các viện, trường để phân tích mẫu, xây dựng bản đồ vùng nguyên liệu và chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu thị trường.
Để phát triển bền vững, việc liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ, quản lý chặt mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói là yếu tố then chốt. Sự phối hợp giữa các bên sẽ góp phần ổn định đầu ra và nâng cao giá trị sản phẩm.
Tại Vĩnh Long, nhiều nông dân đã chủ động ứng dụng công nghệ số trong sản xuất.
Ông Trịnh Ngọc Trung, thành viên Hợp tác xã bưởi da xanh Giao Long, thực hiện ghi chép nhật ký sản xuất hằng ngày theo tiêu chuẩn VietGAP, hướng hữu cơ. Với diện tích 1,2ha, mỗi năm vườn bưởi của ông cung ứng hơn 20 tấn sản phẩm, đáp ứng các tiêu chuẩn xuất khẩu.
Theo bà Cao Thị Triêm, Giám đốc Hợp tác xã bưởi da xanh Giao Long, việc canh tác theo tiêu chuẩn VietGAP cùng với ứng dụng công nghệ số giúp sản phẩm có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Đồng thời, nông dân cũng từng bước tiếp cận thương mại điện tử để mở rộng kênh tiêu thụ.
Khẳng định thương hiệu
Theo ông Nguyễn Đình Tùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Vina T&T Group, bưởi da xanh đã góp phần vào kim ngạch khoảng 10 tỷ USD của ngành rau quả năm 2025.
Thời gian tới, khi ngày càng nhiều sản phẩm được cấp phép vào các thị trường khó tính, giá trị xuất khẩu sẽ tiếp tục được nâng lên. Đáng chú ý, ngành rau quả có giá trị thặng dư thương mại lớn, ước đạt 80-90%.
Từ thực tế đó, việc xây dựng thương hiệu quốc gia cho trái cây Việt Nam, bao gồm bưởi da xanh, được xem là yêu cầu cấp thiết.
Vina T&T Group cùng đối tác đã xuất khẩu lô bưởi đầu tiên sang Australia với sản lượng 1 tấn. Để sản phẩm được thị trường đón nhận, doanh nghiệp chú trọng chặt chẽ từ khâu chăm sóc, vận chuyển đến phân phối, qua đó từng bước xây dựng hình ảnh và uy tín sản phẩm.
Ông Nguyễn Đình Tùng cho rằng nhiều quốc gia đã thành công với các sản phẩm trái cây đặc trưng như kiwi của New Zealand, dâu tây và nho của Hàn Quốc hay táo Washington của Mỹ.
Trong khi đó, thị phần trái cây Việt Nam trên thế giới hiện mới khoảng 1,5%, cho thấy dư địa phát triển còn lớn. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm sản xuất, Việt Nam có đủ cơ sở để xây dựng những sản phẩm mang tính đại diện quốc gia.
Ở góc độ thị trường, ông Phan Quốc Nam, Giám đốc Kinh doanh Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thương mại Blue Ocean, cho rằng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là kênh quảng bá hiệu quả cho trái cây Việt. Khi sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe, việc tiếp cận người tiêu dùng bản địa sẽ thuận lợi hơn thông qua chính cộng đồng này.
Tại các địa phương, việc xây dựng thương hiệu cũng đang được đẩy mạnh. Bà Lê Thị Bé Phượng, Bí thư Đảng ủy phường Mỹ Phong (Đồng Tháp), cho biết địa phương đang tập trung hoàn thiện các quy trình nhằm nâng cao nhận diện thương hiệu bưởi Mỹ Phong, tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm tiếp cận thị trường quốc tế.
Nỗ lực giữ ổn định xuất khẩu
Thực tế cho thấy nhiều loại trái cây Việt Nam khi mới xuất khẩu thường đạt kết quả tích cực, song sau đó dễ rơi vào tình trạng mất cân đối cung-cầu do mở rộng diện tích tự phát.
Để tránh lặp lại vòng xoáy này, ngành hàng bưởi cần tuân thủ chặt chẽ các quy định trong toàn chuỗi sản xuất và tiêu thụ.
Theo ông Nguyễn Văn Mười, Phó Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, việc mở rộng thị trường xuất khẩu là tín hiệu tích cực, song giữ vững thị trường còn khó hơn nhiều. Các vùng trồng cần gắn với chỉ dẫn địa lý, sở hữu trí tuệ và được quy hoạch thành vùng chuyên canh đạt chuẩn.
Bên cạnh đó, xuất khẩu bền vững đòi hỏi nguồn nguyên liệu ổn định cả về sản lượng và chất lượng. Việc quản lý đất đai, nguồn nước, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật... là những yếu tố then chốt quyết định khả năng duy trì đơn hàng.
Tại Đồng Tháp, ông Nguyễn Phước Thiện, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, cho biết địa phương sẽ quy hoạch vùng trồng cho các loại trái cây chủ lực như thanh long, sầu riêng, bưởi da xanh; đồng thời quản lý chặt mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Tỉnh cũng kiến nghị xây dựng các phòng kiểm nghiệm tại địa phương nhằm rút ngắn thời gian kiểm tra, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu.
Tại Vĩnh Long, ngành nông nghiệp tiếp tục duy trì và mở rộng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói; áp dụng các quy trình sản xuất phù hợp với yêu cầu thị trường nhập khẩu, trong đó có các biện pháp kiểm soát sinh vật gây hại như bao trái.
Cùng với đó, địa phương đẩy mạnh nâng cao năng lực quản trị cho hợp tác xã, ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích nông dân tham gia liên kết sản xuất theo các tiêu chuẩn như VietGAP, hữu cơ, kinh tế tuần hoàn.
Đặc biệt, phát triển công nghiệp chế biến được xác định là giải pháp quan trọng nhằm giảm áp lực tiêu thụ trái tươi vào mùa vụ, đồng thời gia tăng giá trị sản phẩm.
Việc tăng cường liên kết giữa nông dân-hợp tác xã-doanh nghiệp, mở rộng thị trường trong nước song song với xuất khẩu, cùng với ứng dụng công nghệ bảo quản, sơ chế sẽ góp phần kéo dài thời gian lưu trữ, giảm hao hụt và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Việc kiểm soát chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và phát triển hài hòa giữa thị trường nội địa và xuất khẩu sẽ là nền tảng để bưởi da xanh Việt Nam phát triển bền vững trong thời gian tới./.
Báo ảnh Việt Nam/ TTXVN




