05/10/2018 14:28 GMT+7 Email Print Like 0

Nơi lưu giữ những báu vật Chăm

Bảo tàng là nơi phản ánh rõ nét nhất bộ mặt văn hoá, chính trị, xã hội của một đô thị, một vùng đất, thậm chí nó còn có thể soi rõ những giá trị ẩn tàng của một nền văn minh cổ đã ngủ quên trong lòng đất từ hàng nghìn, hàng triệu năm trước đó… Điều đó hoàn toàn ứng nghiệm với câu chuyện về một trong những bảo tàng cổ nhất Việt Nam nằm bên bờ Hàn Giang: Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng.
Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, theo chân đoàn quân viễn chinh Pháp kéo đến Việt Nam người ta thấy có cả những nhà khảo cổ. Họ đến Việt Nam với mong muốn tìm kiếm những báu vật ở vùng viễn Đông xa xôi để đưa về “mẫu quốc”. Thế nhưng những cuộc chiến liên miên, và có cả những lí do nào đó đã khiến cho người Pháp thời bấy giờ phải tính tới chuyện xây nên những bảo tàng ở xứ thuộc địa để cất giữ những thứ mà họ đã tìm thấy được ở Việt Nam. Và đó là một trong những lí do của sự ra đời khá sớm các bảo tàng ở Việt Nam, trong đó có Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

Quay ngược thời gian, vào cuối thế kỉ 19, viên công sứ người Pháp ở tỉnh Quảng Nam là Charles Lemire đã tìm kiếm được khá nhiều di vật cổ của người Chăm sau những chuyến khảo cổ và đem nó về trưng bày ở Đà Nẵng. Sau đó, Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (École Française d'Extrême-Orient) tiến hành thêm nhiều đợt khai quật nữa ở quy mô lớn hơn nên số di vật cũng trở nên nhiều hơn, từ đó nảy sinh yêu cầu cần có một bảo tàng để trưng bày các hiện vật này. Năm 1902, nhà khảo cổ nỏi tiếng Henri Parmentier của Trường Viễn Đông Bác cổ Pháp đã đề xuất phương án thiết kế xây dựng một bảo tàng Chăm ở Đà Nẵng. Và kết quả là đến năm 1919, Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm ra đời, tọa lạc trên một gò đất bên phía bờ Tây sông Hàn, nay gần ngay đầu phía Tây cầu Rồng. Bảo tàng được thiết kế theo phong cách pha trộn giữa nét cổ điển châu Âu với những đường nét của kiến trúc Chăm. Thuở ban đầu, Bảo tàng trưng bày 160 cổ vật điêu khắc Chăm do Henri Parmentier thu thập được từ thế kỉ 19, về sau được bổ sung dần thêm từ nhiều nguồn khác. Như vậy có thể nói, Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng là một trong những bảo tàng ra đời sớm nhất ở Việt Nam, sớm hơn cả Bảo tàng lịch sử Việt Nam ở Hà Nội, vốn trước có tên là Bảo tàng Louis Finot do người Pháp xây dựng vào năm 1926.

Trải qua hai lần mở rộng vào những năm 1936 và 2002, đến nay Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm vẫn giữ được nét phong cách kiến trúc cổ kính, duyên dáng với những không gian trưng bày rất độc đáo.



Toà nhà bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là sự kết hợp cách trang trí đặc trưng của đền tháp Chăm
đó là kỹ thuật chạm trổ trên đá với các nguyên tắc truyền thống của kiến trúc Pháp đầu thế kỷ XX,
tạo nên một tổng thể hoàn chỉnh với các tác phẩm điêu khắc Chăm được trưng bày.


Đến với Bảo tàng du khách sẽ hiểu được hơn về vẻ đẹp của nghệ thuật điêu khắc
thông qua các hiện vật được trưng bày nơi đây...


...Và du khách sẽ hình dung ra được  về một thời xưa cũ của nền văn hóa vương quốc 
Chămpa 
trong chiều dài lịch sự của Việt Nam.


Đài thờ Trà Kiệu (thế kỷ X)  là hiện vật tiêu biểu cho sự tồn tại của một khu kinh thành và thờ tự của Chămpa, với 4 mặt
trang trí thể hiện hoàn chỉnh một chủ đề trong thần thoại, tiêu biểu cho sự giao lưu, ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ và Đông Nam Á.


Tượng Dvarapala (thế kỷ IX - X) là Vị thần hộ pháp này đứng trên lưng con trâu, miệng trâu ngậm một vật,
tay cầm vũ khí xoay người nhìn lên hộ pháp. Khuôn mặt thần hộ pháp dữ tợn, đầy vẻ hăm dọa,
tay phải thần cầm đoản kiếm vung lên ngang tai, mũi kiếm hướng vào trong.

Bảo tàng hiện đang lưu giữ khoảng 2.000 hiện vật lớn nhỏ, trong đó gần 300 hiện vật hiện đang được phân chia trưng bày thành các không gian chủ đề khác nhau như: khu trưng bày Hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi; Phòng Quảng Trị, Trà Kiệu, Đồng Dương, Mỹ Sơn, Tháp Mẫm, Bình Định, Kom Tom và Khu trưng bày mở rộng.

Các hiện vật trưng bày ở Bảo tàng đều thể hiện rõ nét đời sống văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng cũng như quan niệm, tư duy tạo hình trong kiến trúc, điêu khắc của người Chăm xưa. Bên cạnh đó, ở đây còn có những tác phẩm liên quan đến Ấn Độ giáo và một số chủ đề khác có nội dung gần gũi với cuộc sống.

Việc bố trí sắp xếp các hiện vật trong Bảo tàng được tính toán công phu và khoa học. Bên cạnh cách phân chia hiện vật theo nguồn gốc, người ta còn sắp xếp, phân loại các hiện vật theo niên đại, chất liệu, nội dung, loại hình tác phẩm… nhằm tạo sự thuận lợi cho người xem, cũng như công tác tra cứu, tìm kiếm phục vụ cho việc nghiên cứu.

Ngoài không gian trưng bày chính mang tính cố định, thỉnh thoảng Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng còn liên kết, phối hợp với các bảo tàng khác tổ chức những cuộc triển lãm chuyên đề giới thiệu về các nền văn minh cổ, hoặc các sự kiện văn hoá đối ngoại đặc biệt nhằm tạo nên sự tươi mới cũng như sức hấp dẫn nhằm thu hút du khách đến với Bảo tàng.

Ngày nay, đến với Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng, du khách sẽ có cơ hội được chiêm ngưỡng những tuyệt tác nguyên bản về nghệ thuật điêu khắc Chăm ở Việt Nam có niên đại từ nhiều thế kỉ trước.

Đặc biệt, ở đây hiện đang lưu giữ 3 bảo vật Quốc gia thuộc nền văn hóa Chăm là đài thờ Trà Kiệu, đài thờ Mỹ Sơn E1 và tượng Bồ tát Tara. Đây là những báu vật có sức thu hút đặc biệt đối nhiều khách tham quan và giới nghiên cứu quốc tế.



Khác với những chủ đề thường được chạm khắc chung quanh các đài thờ về hình ảnh hoặc chuyện kể về các vị thần,
ở đài thờ Mỹ Sơn E1( thế kỷ VII – VIII) là các bức chạm miêu tả nhiều cảnh sinh hoạt hàng ngày trong rừng
của các tu sĩ Ấn Độ Giáo một cách sống động, đầy tính nghệ thuật.


Đản sinh Brahma đây là bức chạm khắc trang trí trên vòm cửa (được gọi là mi cửa, trán cửa hay tympan) của tháp Mỹ Sơn E1,
thể hiện một chủ đề quen thuộc trong thần thoại Ấn Độ, đó là cảnh thần Vishnu sinh ra thần Brahma từ cuống rốn của mình.


Thần Siva (thế kỷ VII-VIII) thân mình hơi nghiêng sang phải, vẻ mặt điềm tĩnh, mái tóc được tết thành nhiều lọn trang trí
tạo thành một búi cao. Dù bị hư hại nhiều, tác phẩm vẫn là một trong những hiện vật đẹp của nghệ thuật điêu khắc Chăm.


Đài thờ Linga (thế kỷ VII-VIII) gồm phần cột hình trụ bên trên, chia làm ba phần gọi là Linga và phần bệ hình vuông
có rãnh dẫn nước nằm bên dưới gọi là Yoni. Linga theo tiếng Phạn cổ thường được hiểu là một hòn đá dựng lên
tượng trưng cho dương vật. Nó tượng trưng cho năng lực sáng tạo siêu việt của thần.


Vật trang trí: Vũ nữ Trà Kiệu (thế kỷ VII-VIII): Hai mặt của đài thờ thể hiện vũ nữ Apsara trong tư thế múa tribhanga
với thân mình uốn cong mềm mại, uyển chuyển cùng nhạc công với vẻ mặt tươi tắn chơi đàn Vina -
một loại nhạc cụ truyền thống xuất xứ từ Ấn Độ.


Bia ký (thế kỷ VII) Với phần thân bia cao 0,87m, có khắc loại chữ Chăm cổ kiểu chữ nghiêng đều đặn, mềm mại
và đẹp mắt trên cả hai mặt với nội dung ghi chú về những lễ vật mà nhà vua dâng cúng cho hai vị thần thờ
tại thánh địa Mỹ Sơn. Bài minh văn trên tấm bia này được khắc vào năm 679 công nguyên,
tương đương với triều đại vua Prakãçadharma, vương triều đầu tiên Gangãrãja của Champa.


Tượng Bồ tát Tara (thế kỷ IX-X) làm bằng đồng thể hiện hoá thân nữ của Bồ tát Avalokitesvara dưới tên gọi Tara.
Bồ tát được thể hiện đứng thẳng, hai tay đưa ra phía trước, tay trái cầm tù và ốc, tay phải cầm hoa sen nở,
bên trong có gương sen.


Đài thờ Đồng Dương – Quảng Nam (thế kỷ IX-X) được đưa về Bảo tàng từ năm 1935. Mảng đài thờ này gồm có bốn khối đá
cùng một đồ án ăn khớp với những bức điêu khắc trang trí tinh xảo miêu tả hình ảnh những con sư tử có dáng đứng thẳng
hoặc đứng nghiêng khá ngộ nghĩnh được chạm khắc giữa các cột, nổi bật trên phông chạm cánh sen khá mềm mại,
miệng há rộng, lưỡi thè ra và trên đầu có sừng phía trước.


Hai bên là thủy quái Makara (thế kỷ XIII), là một tượng tròn, ở tư thế nằm, được cách điệu với sự pha trộn nhiều chi tiết
của nhiều con vật khác nhau, hai chân trươc cùng đầu vươn cao, lòng bàn chân mở ra phía trước tạo nên tư thế
vừa ngộ nghĩnh vừa hung dữ.Trong điêu khắc Chăm, Makara còn được gọi là rồng, thường hay thể hiện thành một cặp đôi
đối xứng nhau, đặt ở lối vào các ngôi đền, giữ gìn sự yên tĩnh, tôn nghiêm cho nơi thờ cúng, trú ngụ của các vị thần linh.


Thần Vishnu (thế kỉ XI – XII) theo Ấn độ giáo là vị thần bảo tồn, canh giữ không trung.
Trong thần thoại Ấn Độ, vị thần này có rất nhiều kiếp hóa thân khác nhau.


Thần Skanda (thế kỉ X) đứng trên lưng một con công. Các chi tiết trên thân hình và đuôi con công được chạm trỗ tinh tế,
hoàn mỹ theo bút pháp tả thực. Rất tiếc đầu con công đã bị gãy mất, nhưng toàn bộ thân hình và dáng đứng của con công
vẫn toát lên vẻ trang trọng vững chãi, tôn vinh vẻ đẹp của thần Skanda,
một vị thần tượng trung cho sự trẻ trung và nhiều tài năng trong thần thoại Ấn Độ.


Với thân hình tròn trĩnh, mập mạp, tượng thần Ganesa (thế kỉ VII) trông rất vững chãi, bệ vệ và thân thiện với mọi người.


Gạch, Cuội, Kim loại vàng, Thạch Anh được phát hiện tại hố thiêng Phong Lệ (Đà Nẵng).

Đài thờ Mỹ Sơn E1 (thế kỉ 7 - 8) là một tác phẩm điêu khắc miêu tả một cách sống động và đầy tính nghệ thuật về các điệu múa mang tính tâm linh của Ấn Độ giáo. Còn đài thờ Trà Kiệu (cuối thế kỉ 10) xứng đáng là một kiệt tác điêu khắc với hình ảnh mười một vũ nữ Apsara nhảy múa vô cùng mềm mại, uyển chuyển và gợi cảm. Nổi bật nhất có lẽ là tượng Bồ tát Tara (cuối thế kỉ 9 – đầu thế kỉ 10), tác phẩm bằng chất liệu đồng duy nhất ở Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm. Tượng được trưng bày ở phòng Đồng Dương mang vẻ đẹp vô cùng quyến rũ với hình thế đứng thẳng, hai tay đưa ra phía trước. Bồ tát có miệng rộng, môi dày, vành môi sắc nét, mũi cao, hai cánh mũi rộng, đôi mắt lớn hình hạnh nhân bên trong có đồng tử được khảm bằng một loại đá quý.

Đến với Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng du khách sẽ được sống lại với một thế giới tâm linh đầy huyền bí của người Chăm xưa qua những di vật mang đậm dấu ấn lịch sử của một thời quá vãng./.


- Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm Đà Nẵng được Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp
khởi công xây dựng năm 1915 và hoàn thành vào năm 1919.
Bảo tàng do hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair thực hiện.
- Địa chỉ: Số 2, đường 2/9, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
- Giờ mở cửa: 7h – 17h hàng ngày, kể cả thứ Bảy, Chủ nhật
- Giá vé: 60 nghìn đồng/người, không phân biệt khách trong nước và quốc tế.
 
Bài và ảnh: Trần Thanh Giang