Kinh tế

Nghị quyết số 70-NQ/TW: Từ định hướng chiến lược đến yêu cầu tăng tốc

Từ Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đến Kết luận số 14-KL/TW về bảo đảm nguồn cung, ổn định giá nhiên liệu trong tình hình mới, cùng với điều hành của Chính phủ khi căng thẳng Trung Đông bùng phát, có thể thấy rõ định hướng “từ sớm, từ xa” và sự chủ động, linh hoạt trong ứng phó với các biến động năng lượng từ bên ngoài.

Cánh đồng điện gió Đầm Nại (Ninh Thuận). Ảnh: Nguyễn Thành/TTXVN

Tuy nhiên, những biến động từ Trung Đông không chỉ tác động đến giá cả, nguồn cung năng lượng mà cũng đặt ra yêu cầu phải đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả thực thi các chủ trương, chính sách, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng vốn đã được đặt ra từ nhiều năm trước.

Phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch: Rủi ro mang tính cấu trúc

Hệ thống năng lượng Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nhiên liệu hóa thạch, đặc biệt là nhiệt điện than và điện khí, trong khi các nguồn năng lượng mới chưa thể bù đắp đủ nhanh. Khi nguồn cung quốc tế biến động, những rủi ro mang tính cấu trúc này càng bộc lộ rõ.

Ông Nguyễn Quốc Trung, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho biết, xung đột Trung Đông đã đẩy giá dầu và khí tăng mạnh do gián đoạn các tuyến vận chuyển năng lượng chiến lược, đặc biệt tại eo biển Hormuz – nơi trung chuyển khoảng 25% nguồn cung dầu và khí toàn cầu. Đồng thời, các nước xuất khẩu than như Indonesia có xu hướng hạn chế xuất khẩu để bảo đảm nhu cầu trong nước.

Khi dư địa can thiệp từ phía cung không còn nhiều, điều chỉnh từ phía cầu trở thành lựa chọn khả thi trong ngắn hạn. TS. Nguyễn Trí Hiếu nhận định: “Tiết kiệm năng lượng đóng vai trò như một ‘van điều tiết’ giúp nền kinh tế vận hành ổn định trong bối cảnh giá biến động”. Nếu tiết kiệm được 8–10% tổng tiêu thụ, Việt Nam có thể giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới và tạo thêm dư địa tăng trưởng.

Không chỉ rủi ro nguồn cung, hệ thống điện còn chịu áp lực từ quá trình chuyển đổi và nhu cầu tăng cao. Ông Nguyễn Quốc Trung cho biết, trong bối cảnh nguồn LNG và khí trong nước suy giảm, khu vực miền Nam có thể đối mặt với khó khăn về cung cấp điện vào buổi tối khi năng lượng tái tạo không còn phát huy hiệu quả. Những khó khăn này có thể chưa rõ nét trong năm 2026 nhưng có khả năng xuất hiện rõ hơn vào giai đoạn 2027–2028.

Trong bối cảnh này, yêu cầu bảo đảm điện cho tăng trưởng trở nên cấp thiết. Làm việc với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Phó Thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh nhu cầu điện sẽ tiếp tục tăng mạnh cùng mục tiêu tăng trưởng kinh tế trên 10% trong năm 2026. Phó Thủ tướng đề nghị EVN duy trì tốc độ tăng trưởng điện năng ở mức cao, bảo đảm cung ứng điện đầy đủ cho các lĩnh vực then chốt như công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và trung tâm dữ liệu.

Đồng thời, EVN cần triển khai hiệu quả Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm, bảo đảm phát triển đồng bộ giữa nguồn và truyền tải, tránh tình trạng quá tải hoặc thiếu hạ tầng đồng thời tăng cường hợp tác khu vực, mở rộng nhập khẩu điện, góp phần đa dạng hóa nguồn cung...

Chuyển dịch năng lượng: Từ định hướng đến yêu cầu tăng tốc

Các dự án điện gió và điện mặt trời nối tiếp nhau tại xã Ninh Phước, góp phần đưa tỉnh Khánh Hòa trở thành một trong những trung tâm năng lượng quốc gia. Ảnh: Nguyễn Thành/TTXVN

Trên thực tế, định hướng giảm phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch, đa dạng hóa nguồn cung và phát triển năng lượng sạch đã được Việt Nam đặt ra từ nhiều năm trước và từng bước thể chế hóa qua các nghị quyết, quy hoạch và chính sách cụ thể. Các chính sách gần đây; trong đó Nghị quyết số 70-NQ/TW đã đánh dấu một cột mốc mới trong tiến trình cải cách và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Với tầm nhìn dài hạn, Nghị quyết này được xem là kim chỉ nam cho phát triển năng lượng quốc gia trong nhiều thập kỷ tới, khẳng định năng lượng phải “đi trước một bước,” vừa đáp ứng phát triển kinh tế-xã hội, vừa bảo đảm độc lập, tự chủ, an toàn, hiệu quả và phù hợp xu thế chuyển dịch năng lượng xanh, sạch.

Tuy nhiên, các biến động địa chính trị gần đây cho thấy khoảng cách giữa định hướng và khả năng chống chịu thực tế của hệ thống năng lượng vẫn còn đáng kể, đòi hỏi quá trình chuyển dịch phải được đẩy nhanh và thực chất hơn.

Theo TS. Phùng Quốc Huy, Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng châu Á - Thái Bình Dương (APERC), nếu không thay đổi chính sách, mức độ phụ thuộc nhập khẩu năng lượng của Việt Nam có thể vượt 50% vào năm 2060. Ngược lại, nếu đẩy mạnh chuyển đổi, tỷ lệ này có thể giảm xuống khoảng 8%. “Chuyển dịch năng lượng không chỉ nhằm đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 mà còn là giải pháp cốt lõi để bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn”, ông Huy nhận định.

Tuy nhiên, chi phí cho quá trình này rất lớn, ước tính khoảng 3.600 tỷ USD đến năm 2060, đòi hỏi cơ chế huy động vốn và chính sách phù hợp. Ở góc độ chính sách, cú sốc Trung Đông cũng cho thấy rõ sự cần thiết của đa dạng hóa nguồn cung.

Ông Đỗ Văn Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam cho rằng Việt Nam cần sớm xây dựng chiến lược dự trữ năng lượng dài hạn, đồng thời phát triển các nguồn năng lượng thay thế để giảm phụ thuộc nhập khẩu.

Bên cạnh đó, các chuyên gia nhấn mạnh cần đa dạng hóa nguồn LNG, phát triển thị trường điện cạnh tranh, đẩy mạnh năng lượng tái tạo gắn với hệ thống lưu trữ và xây dựng lưới điện thông minh. Song song với đa dạng hóa nguồn cung, tiết kiệm năng lượng vẫn là giải pháp hiệu quả nhất trong ngắn hạn.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và cam kết giảm phát thải ròng bằng 0 (Net-Zero) vào năm 2050, Việt Nam đang bước vào giai đoạn quan trọng của chuyển dịch năng lượng, từ năng lượng hóa thạch sang năng lượng tái tạo và nhiên liệu sinh học... Ảnh: Báo ảnh Việt Nam

Ông Nguyễn Anh Dũng, chuyên gia năng lượng của Quỹ châu Á cho rằng cần tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng lớn như giao thông, xây dựng và công nghiệp; thúc đẩy xe điện, công trình xanh và đổi mới thiết bị để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

Về dài hạn, Việt Nam cần hướng tới hệ sinh thái năng lượng đa dạng; trong đó năng lượng tái tạo đóng vai trò trung tâm, khí đốt là nguồn chuyển tiếp và hydrogen là giải pháp tương lai. Quá trình này đòi hỏi sự đồng bộ giữa nguồn điện, lưới điện và công nghệ lưu trữ, cùng lộ trình linh hoạt để tránh rủi ro “tài sản mắc kẹt”.

Căng thẳng Trung Đông không làm thay đổi định hướng, nhưng đóng vai trò như phép thử thực tế đối với chiến lược năng lượng của Việt Nam. Những rủi ro về giá, nguồn cung và vận hành cho thấy yêu cầu phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch theo hướng đa dạng, tự chủ và bền vững.

Nhà máy điện mặt trời Dầu Tiếng (Tây Ninh) có tổng mức đầu tư gần 13.000 tỷ, là dự án năng lượng mặt trời lớn nhất Việt Nam. Nhà máy là biểu tượng cho sự phát triển bền vững của năng lượng tái tạo trong nước. Ảnh: Lê Tấn Phát

Trong bối cảnh đó, bảo đảm đủ điện cho tăng trưởng, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và tăng tốc triển khai các chính sách đã ban hành sẽ là “chìa khóa” giúp Việt Nam ứng phó hiệu quả với các cú sốc bên ngoài và duy trì ổn định kinh tế trong dài hạn./.

Thực hiện: Báo ảnh Việt Nam/TTXVN


Top