27/12/2018 00:01 GMT+7 Email Print Like 0

Bí ẩn Trò Xuân Phả

Trò Xuân Phả là các trò diễn dân gian mô tả cảnh năm phương đến chầu, đem những tiết mục múa hát đặc sắc của quốc gia lân bang đến chúc mừng Hoàng đế nước Việt xưa. Theo các nhà nghiên cứu, Trò Xuân Phả được coi là điệu múa chứa đựng nhiều thông tin bí ấn của người Việt trong quá khứ, có quan hệ nhiều mặt với lịch sử dân tộc và có vai quan trọng trong kho tàng diễn xướng vũ nhạc của người Việt.
Trò Xuân Phả bước ra từ truyền thuyết
 
Hiện nay, nguồn gốc Trò Xuân Phả vẫn đang là một ẩn số chưa được thống nhất trong giới nghiên cứu văn hóa dân gian. Nhưng theo lời của nghệ nhân Bùi Văn Hùng (xã Xuân Trường, Thọ Xuân, Thanh Hóa), người có vai trò không nhỏ trong việc gìn giữ và bảo tồn di sản Trò Xuân Phả, thì người dân làng Xuân Phả bao đời vẫn lưu truyền về nguồn gốc của trò diễn này có từ thời Nhà Đinh (968 - 980).

Truyền thuyết địa phương kể lại rằng, trên đường dẫn nghĩa quân đi dẹp loạn sứ quân cuối cùng trong loạn 12 sứ quân, đó là sứ quân Ngô Xương Xí ở Bình Kiều – Châu Ái (Thanh Hóa ngày nay), Đinh Bộ Lĩnh khi đến đất Quan Thành thì dựng trại, đóng quân tại đây. 

Sau đó, Đinh Bộ Lĩnh đã cử sứ giả đi cầu Bách linh mong âm phù giúp ba quân đánh thắng trận để thống nhất đất nước. Sứ giả nhận mệnh đi đường thủy ngược dòng Sông Chu thì gặp giông tố nổi lên nên phải trú lại trong nghè Xuân Phả.



Những chiếc mặt nạ được làm bằng gỗ và da trong các điệu múa Hoa Lang, Tú Huần, Chiêm Thành. Ảnh: Công Đạt


Sênh tre là một nhạc cụ chính trong trò Ai Lao. Ảnh: Thanh Giang


Nhạc cụ dùng trong các trò múa Xuân Phả là trống, thanh la,
mõ hoặc xênh tre tạo thành những âm thanh hết sức vui nhộn. Ảnh: Công Đạt


Người múa trò Chiêm Thành chuẩn bị đạo cụ. Ảnh: Công Đạt 


Người múa trong trò Tú Huần chuẩn bị trang phục. Ảnh: Công Đạt


Đội múa trò Tú Huần biểu diễn tại nghè Xuân Phả. Ảnh: Công Đạt


Người múa vừa múa theo nhịp trống vừa sử dụng các đạo cụ nhuần nhuyễn trong trò Chiêm Thành. Ảnh: Thanh Giang 


Những điệu nhảy múa đẹp mắt trong trò Ngô Quốc. Ảnh: Công Đạt 


Điệu múa quạt đặc trưng của trò Hoa Lang. Ảnh: Công Đạt 


Điệu múa sênh rất đẹp mắt của trò Ai Lao. Ảnh: Công Đạt

Nghè Xuân Phả là nơi thờ Đại Hải Long Vương, một vị thần rất linh thiêng theo tín ngưỡng người Châu Ái. Đến đêm, thần Hoàng làng Xuân Phả đã báo mộng cho sứ giả về cách phá giặc. Thấy kế hay, Đinh Bộ Lĩnh bèn làm theo và đã đánh bại được quân của Ngô Xuơng Xí thống nhất đất nước với danh xưng nhà nước Đại Cồ Việt.

Trò Xuân Phả gồm có 5 điệu múa đại diện cho văn hoá của năm khu vực lân bang với nước Đại Cồ Việt xưa, đó là: Hoa Lang (điệu múa của Vương quốc Cao Ly – ngày nay là Triều Tiên), Chiêm Thành (một bộ tộc ở phía Nam nước Đại Cồ Việt), Ai Lao (Nước Lào ngày nay), Ngô Quốc (tên một quốc gia thời cổ đại ở Trung Quốc), Lục Hồn Nhung (tên một bộ tộc phía Bắc Đại Cồ Việt).
(nguồn Viện Âm nhạc Việt Nam)
Tưởng nhớ đến công lao thần Hoàng làng Xuân Phả báo mộng, Vua Đinh sau đó đã cho đem toàn bộ cống phẩm đến tế tại đền thờ Đại Hải Long Vương. Vua Đinh đã trực tiếp giao cho Hoàng hậu Nguyệt Nương trách nhiệm huấn luyện đội múa để hàng năm thực hành các điệu múa này tại Nghè Xuân Phả vào dịp hội làng. Sau này, theo thỉnh cầu của người dân làng Xuân Phả, các điệu múa này đã được truyền lại cho người dân tự tập, tự diễn.

Từ đó, điệu múa có tên là Xuân Phả hay còn gọi là Ngũ quốc lân bang đồ cống tiến, và được các thế hệ người dân làng Xuân Phả lưu truyền đến ngày nay trở thành một sinh hoạt văn hóa độc đáo ở Xứ Thanh.

Theo các nhà nghiên cứu, Trò Xuân Phả là một minh chứng cho chặng đường phát triển nghệ thuật cung đình Việt Nam, có vai trò quan trọng trong kho tàng diễn xướng vũ nhạc của dân tộc. Điều này có thể thấy rõ khi quan sát việc thực hành các điệu múa trong Trò Xuân Phả.

Sức sống trường tồn từ nội lực

Tháng 9/2016, Trò Xuân Phả được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia. Di sản này đã không chỉ là “báu vật” văn hóa xứ Thanh, mà đã trở thành viên ngọc quý trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Theo nghệ nhân Bùi Văn Hùng, trong một thời gian dài, làng không mở hội, việc thờ cúng Thành Hoàng cũng bị lu mờ do chiến tranh. Nhưng Trò Xuân Phả vẫn được người dân sinh hoạt dưới nhiều hình thức.

Nghệ nhân Hùng cho biết, theo lời các cụ cao  niên trong làng kể lại. Năm 1936, Trò Xuân Phả được vua Bảo Đại mời vào biểu diễn tại Hội chợ Kinh đô Huế, sau đó được đưa đi biểu diễn tại Sài Gòn và Hà Nội.

Đến năm 1939, ông Bourin, nhà hoạt động nghệ thuật người Pháp xin đầu tư để đưa trò Xuân Phả sang biểu diễn tại Mỹ, nhưng do chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ nên việc không thành.

Bởi thế mà từ xưa, người dân xứ Thanh có câu “Ăn bánh với giò không bằng xem trò làng Láng (hay làng Xuân Phả)”. Còn ngày nay, sự hứng khởi của người dân xứ Thanh vẫn còn nguyên với Trò Xuân Phả trong câu nói: “Không có Xuân Phả thì đó chưa phải là lễ hội xứ Thanh”.

Trong Lễ hội Lam Kinh 2018, một lễ hội lớn nhất của tỉnh Thanh Hoá, Trò Xuân Phả đã được biểu diễn với ý nghĩa mở ra cho một thời kỳ thịnh vượng, một cuộc sống ấm no hạnh phúc của người dân. Đây là những minh chứng cho sức sống trường tồn của Trò Xuân Phả trong sinh hoạt văn hóa tinh thần của người dân xứ Thanh.

5 trò Xuân Phả, mỗi trò đều có trang phục khác nhau. Mặc dù có nhiều trò sử dụng áo 5 thân, quần dài trắng có kiểu may giống nhau, nhưng màu sắc thì hoàn toàn khác nhau.



 Nghệ nhân Bùi Văn Hùng đang vẽ lại những động tác múa của Trò Xuân Phả. Ảnh: Công Đạt


Anh Đỗ Văn Hào, một người thợ mộc trong xã, đã làm ra những chiếc mặt nạ để phục vụ cho việc diễn Trò Xuân Phả.
Ảnh: Công Đạt


Nghệ nhân múa Xuân Phả Bùi Văn Hùng đang truyền dạy những điệu múa trong Trò Xuân Phả cho các em học sinh trong xã.
Ảnh: Công Đạt 


Tư thế múa đặc trưng của 5 điệu múa trong Trò Xuân Phả. Ảnh: Công Đạt 


Những điệu múa Xuân Phả được trình diễn trong ngày hội làng Xuân Phả hàng năm. Ảnh: Tư liệu


Những điệu múa Xuân Phả bí ẩn được trình diễn trong Lễ hội Lam Kinh hàng năm. Ảnh: Công Đạt

Người Cao Ly trong trong trò Hoa Lang mặc áo màu xanh nước biển. Người Chiêm Thành trong trò Chiêm Thành mặc quần áo màu đỏ, đội mũ đỏ, tạo lên một màu đỏ rực rỡ, chói chang, do người Chiêm Thành cư trú ở miền Trung, vùng khí hậu nóng. Người Lục Hồn thì mặc áo màu xanh chàm, đây là một bộ tộc ít người cư trú ở vùng rừng núi phía Tây Thanh Hóa. Người Trung Hoa trong trò Ngô Quốc mặc áo màu thanh thiên.

Xuân Phả còn được coi là một diễn xướng tổng hợp tính chất trò, tính chất ca, tính chất múa. Điểm nổi bật trong nghệ thuật trò Xuân Phả là luôn tôn trọng nội dung múa, các điệu múa đều có quy định chặt chẽ. Từng trò trong cả một hệ thống đều có vũ đồ rõ ràng. Quy cách múa cũng được quy định chặt chẽ và sử dụng nhiều động tác như múa tay, múa chân, múa có đạo cụ (cờ, quạt, gươm, giáo...). Đặc biệt các điệu múa trong Xuân Phả sử dụng những động tác giật vai, lắc đầu, múa toàn thân, nhảy nhỏ,... là hiện tượng hiếm có trong lịch sự phát triển của múa nhân loại.
(nguồn Viện Âm nhạc Việt Nam)
Riêng người Lào trong trò Ai Lao thì mặc quần dài và áo cánh trắng, quấn xà cạp màu xanh chàm, có một tấm thổ cẩm dệt hoa văn Lào, quàng chéo từ vai phải sang hông trái.

Như vậy trong chừng mực nào đó, người xưa đã có ý thức rõ ràng về sử dụng màu quần sắc áo để phân biệt các tộc người, phân biệt vị trí xã hội của từng loại người trong xã hội.

Có 3 trò sử dụng mặt nạ. Người Cao Ly mang măt nạ bằng da bò, có mũi thẳng và cao, đội mũ da màu đen có chọp nhọn, có ria mép.

Người Chiêm Thành mang mặt nạ bằng gỗ sơn màu đỏ, mũi thấp và ngắn, hai mắt bằng lông chim công, không có ria mép, để thể hiện người Châu Á.

Người Lục Hồn mang mặt nạ gỗ sơn trắng, người cằm nhọn là đàn bà, người cằm tròn là đàn ông, mặt nạ nhiều răng là người nhiều tuổi, mặt nạ ít răng là người ít tuổi, mặt nạ của người Lục Hồn chủ yếu thể hiện về mặt tuổi tác.

Đặc biệt trong hai trò Lục Hồn Nhung và Ai Lao, có đội mũ nan đan bằng tre như hình cái rế. người Lào thì trên mũ nan ấy buộc nhiều sợi rễ cây si dài đến chấm vai, tượng trưng cho tóc dài.

Người Lục Hồn thì gắn nhiều búi bòng bong được vót ra từ tre hoặc nứa, tượng trưng cho tóc ngắn, nhằm biểu hiện cho các bộ tộc ở vung rừng núi xa xôi. Không chỉ màu quần sắc áo, người xưa đã sử dụng đến mặt nạ, mũ, râu tóc để thể hiện nét đặc trưng chủng tộc.

Ngày nay, ngoài ngày lễ chính của Trò Xuân Phả, để bảo tồn di sản độc đáo này của địa phương, nghệ nhân Hùng cùng các nghệ nhân khác trong làng đã tổ chức các buổi dạy múa định kỳ cho các em học sinh trong các hoạt động ngoại khoá kết hợp giữa nhà trường và cộng đồng.

Như lời phân tích của nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng về sức sống trường tồn của Trò Xuân Phả trong kho tàng diễn xướng dân tộc: “Một dân tộc có bốn nghìn năm ngàn năm lịch sử thì quá khứ không bao giờ mất đi, mà ẩn hiện dưới rất nhiều hình thức văn hóa. Có lẽ sự tích và nội dung của năm điệu múa Xuân Phả chứa đựng những thông tin quá khứ bí ẩn của người Việt mà chúng ta chưa giải mã được”./.


Trong Trò Xuân Phả có hệ thống trò diễn độc đáo, dung nạp, quy tụ nhiều loại hình nghệ thuật như múa hát âm nhạc, trang phục nghệ thuật biểu diễn, truyền tải tích trò. Đây chính là một quá trình lựa chọn, tiếp thu tinh hoa của các nghệ thuật khác. Trò Xuân Phả nhìn về tổng thể là sự hài hòa giữa nghệ thuật cung đình với nghệ thuật dân gian.
(nguồn Viện Âm nhạc Việt Nam)

Bài: Thảo Vy - Ảnh: Trần Công Đạt, Trần Thanh Giang và Tư liệu