Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Bangkok, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đồng Thanh Hà - Khoa Thực phẩm, Nông nghiệp và Tài nguyên thuộc AIT – cho rằng Việt Nam có thế mạnh về lúa gạo, cà phê, trái cây nhiệt đới, thủy sản và sản xuất quy mô lớn. Trong khi đó, Thái Lan có nhiều kinh nghiệm về công nghệ sản xuất, giống, chế biến chuyên sâu, logistics và phát triển chuỗi giá trị. Những thế mạnh này có thể kết nối để tạo ra các giá trị mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của cả hai bên.
Hai nước còn rất nhiều cơ hội để mở rộng hợp tác, đặc biệt trong nông nghiệp thông minh và chuyển đổi số, công nghệ sinh học và phát triển giống, công nghệ sau thu hoạch và chế biến, quản lý dịch bệnh và sức khỏe vật nuôi, cũng như các giải pháp giảm sử dụng kháng sinh và thích ứng với biến đổi khí hậu. Trong số đó, vaccine và các giải pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi và thủy sản là những lĩnh vực có tiềm năng hợp tác nghiên cứu và ứng dụng rất lớn.
PGS. TS Đồng Thanh Hà cũng cho rằng điều quan trọng là hợp tác không nên chỉ dừng ở “chia sẻ kinh nghiệm”, mà cần chuyển sang “cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng thương mại hóa”. Cách tiếp cận này sẽ giúp hai nước tận dụng tốt hơn thế mạnh của nhau, cùng phát triển những sản phẩm và công nghệ có khả năng cạnh tranh ở cả thị trường khu vực và quốc tế.
Trong khi đó, PGS.TS Nguyễn Thị Phước Lai - Trưởng Khoa Chính sách công và Phát triển bền vững thuộc AIT - cho biết Việt Nam và Thái Lan có nhiều tiềm năng hợp tác trong chuyển đổi sang nông nghiệp công nghệ cao do hai nước có nhiều điểm tương đồng về sản xuất nông nghiệp và cùng đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, hai nước cũng có sự khác biệt về cấu trúc sản xuất. Thái Lan có nguồn đất nông nghiệp tương đối dồi dào và nhiều nông dân tham gia mô hình "nông nghiệp hợp đồng" hay hợp đồng bao tiêu (contract farming) với các tập đoàn và doanh nghiệp lớn, trong khi Việt Nam chủ yếu dựa vào các hộ nông dân quy mô nhỏ và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những khác biệt này cần được tính đến khi phát triển và ứng dụng công nghệ.
Chia sẻ quan điểm với PGS.TS Đồng Thanh Hà, PGS. TS Nguyễn Thị Phước Lai cho rằng hợp tác không nên chỉ dừng ở chuyển giao công nghệ, mà cần hướng tới cùng nghiên cứu, thử nghiệm và thích ứng công nghệ với điều kiện của mỗi nước, đồng thời tăng cường trao đổi và học hỏi kinh nghiệm chính sách của Thái Lan trong thúc đẩy ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp. Theo PGS. TS Nguyễn Thị Phước Lai, trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), thiết bị bay không người lái (drone), nông nghiệp chính xác, quản lý đất và nước, dự báo khí hậu và dữ liệu nông nghiệp đều có thể là những hướng hợp tác tiềm năng. Đặc biệt, cần kết hợp đổi mới công nghệ với các chính sách tạo điều kiện để nông dân tiếp cận và ứng dụng công nghệ, như tín dụng, đào tạo kỹ năng số, dịch vụ khuyến nông, cơ chế chia sẻ dữ liệu và các mô hình hợp tác công – tư.
Một lợi thế đáng chú ý của Thái Lan là có nguồn dữ liệu dài hạn và tương đối dễ tiếp cận, đặc biệt về khí hậu, thời tiết và điều kiện sản xuất, tạo nền tảng cho nông nghiệp chính xác, dự báo và các ứng dụng AI. Đây cũng là một lĩnh vực mà Việt Nam và Thái Lan có thể tăng cường hợp tác, không chỉ trong chia sẻ dữ liệu mà cả về phương pháp phân tích và phát triển các ứng dụng phù hợp với nhu cầu của nông dân.
Bên cạnh đó, hai nước có thể thúc đẩy hợp tác giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp của hai bên, trong đó AIT có thể đóng vai trò kết nối và hỗ trợ về công nghệ, nghiên cứu và chính sách. Chẳng hạn, các bên có thể cùng nghiên cứu và thử nghiệm các giải pháp nông nghiệp thông minh trong sản xuất lúa và thích ứng với biến đổi khí hậu tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), với sự tham gia của các đối tác nghiên cứu tại đây.
Về những thách thức, khó khăn có thể gặp phải trong quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp công nghệ cao, PGS.TS Nguyễn Thị Phước Lai cho rằng đó là khả năng tài chính, năng lực số của nông dân và chất lượng dữ liệu. Đặc biệt, đối với các mô hình sản xuất quy mô nhỏ, chi phí đầu tư ban đầu cho thiết bị, phần mềm, cảm biến và máy móc công nghệ cao có thể vượt quá khả năng tài chính của nông hộ. Bên cạnh đó, kỹ năng số còn hạn chế có thể khiến nông dân gặp khó khăn trong việc tiếp cận, sử dụng và khai thác dữ liệu để hỗ trợ quyết định sản xuất.
Về giải pháp, PGS.TS Nguyễn Thị Phước Lai cho rằng chuyển đổi công nghệ cần đi cùng với các cơ chế hỗ trợ về tài chính, đào tạo kỹ năng số và khuyến nông, cũng như các chính sách tạo điều kiện để nông dân tiếp cận công nghệ. Mục tiêu của nông nghiệp công nghệ cao không chỉ là nâng cao năng suất, mà còn phải cải thiện thu nhập và khả năng chống chịu của nông dân trước các rủi ro và cú sốc, đồng thời nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong sử dụng tài nguyên./.





