Sáng 6/3, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (gọi tắt Viện Lúa) phối hợp cùng Hiệp hội Ngành hàng lúa gạo Việt Nam tổ chức ngày hội nông dân trồng lúa năm 2026. Điểm nhấn của sự kiện là việc trình diễn 22 giống lúa triển vọng cho sản xuất lúa gạo bền vững tại khu vực trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp.
Tiến sĩ Trần Ngọc Thạch, Viện trưởng Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long (trái) giới thiệu với lãnh đạo các đơn vị về giống lúa. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Trong vụ Đông Xuân 2025 - 2026, Viện Lúa đã đưa vào trình diễn 22 giống lúa được chia thành nhiều nhóm mục tiêu khác nhau (nhóm lúa thơm chất lượng cao cấp, nhóm lúa chất lượng cao, nhóm lúa cao sản, nhóm lúa màu dinh dưỡng, nhóm giống lúa nếp- japonica) nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu thị trường và điều kiện canh tác.
Cụ thể, nhóm lúa thơm chất lượng cao cấp có các giống lúa điển hình như: OM19, OM8, OM66, OM68. Trong đó, giống OM19 và OM68 đã được công nhận lưu hành vào đầu năm 2026, ghi nhận đặc tính gạo trắng trong, mùi thơm đậm vị và năng suất tiềm năng đạt từ 6,0 - 8,0 tấn/ha.
OM3-một trong những giống lúa đã được lưu hành. Ảnh: Thu Hiền - TTXVN
Đối với nhóm lúa chất lượng cao, gồm các giống như: OM3, OM18, OM5451, OM429... Nhóm này tập trung vào đặc tính cơm mềm, dẻo và tỷ lệ gạo nguyên cao. Đặc biệt, giống OM3 có khả năng chịu mặn ở mức 4-5‰, rất phù hợp cho các vùng sinh thái ven biển.
Riêng nhóm lúa cao sản như: OM29, OM17 đạt tiềm năng năng suất ấn tượng, có thể lên tới 9,0 tấn/ha. Ngoài ra, giống lúa màu OM52 (nhóm giống lúa dinh dưỡng) cũng được giới thiệu nhằm đáp ứng phân khúc thực phẩm dinh dưỡng.
Theo Tiến sĩ Mai Nguyệt Lan, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long, 22 giống lúa được trình diễn, có 11 giống đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường công nhận lưu hành (trong đó, có 4 giống lúa mới được lưu hành trong năm 2025-2026 gồm: OM19, OM29, OM3, OM74), các giống còn lại đang trong giai đoạn hoàn thiện hồ sơ hoặc khảo nghiệm diện rộng.
Đáng chú ý, nhiều giống lúa mới đang trong quá trình khảo nghiệm (VCU) như OM6, OM15, OM54 cho thấy khả năng chống chịu sâu bệnh vượt trội. Giống OM15 không chỉ đạt năng suất 6,0-8,0 tấn/ha mà còn kháng đạo ôn, rầy nâu và chịu mặn 3-4‰. Giống OM82 (nhóm Japonica) cũng gây ấn tượng với cơm ngon, hạt bầu tròn, phù hợp cho thị trường tiêu dùng cao cấp.
Là hợp tác xã đầu tiên canh tác giống lúa OM19 (vụ lúa Đông Xuân 2025 – 2026), ông Nguyễn Cao Khải, Giám đốc Hợp tác xã Tiến Thuận (thành phố Cần Thơ) nhận xét rất tích cực về giống lúa này sau quá trình thực hiện thực tế: lúa đẻ nhánh mạnh, nuôi chồi tốt và trổ bông đều; khả năng kháng bệnh cao. Đặc biệt, có doanh nghiệp cam kết bao tiêu sản phẩm với mức giá tương đương lúa ST25.
Với tổng diện tích 512 ha của Hợp tác xã, ông Khải khẳng định đơn vị sẵn sàng mở rộng diện tích canh tác giống OM19 trong các vụ tiếp theo vì lợi ích thiết thực mà giống lúa này mang lại.
Dù lúa đang rất hứa hẹn, khả năng thắng lợi đã đạt 90%), nhưng Giám đốc Hợp tác xã Tiến Thuận vẫn còn một số lo ngại về: tình trạng mưa gió thất thường, trái mùa có thể ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng. Việc chuyển từ canh tác truyền thống sang quy trình giảm giống, giảm thuốc bảo vệ thực vật đòi hỏi nông dân phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm.
Thông tin về chiến lược giống qua các thời kỳ, ông Lê Thanh Tùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam cho biết, 20-30 năm trước, việc canh tác lúa tập trung vào giống năng suất cao, chống chịu sâu bệnh (điển hình là giống IR50404) để đảm bảo an ninh lương thực. Nhưng hiện nay, việc sản xuất lúa đã chuyển sang giống chất lượng cao (hạt dài, trắng trong, thơm nhẹ) và các giống lúa thơm đặc sản, lúa có vi chất dinh dưỡng, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Ông Tùng dẫn chứng, theo số liệu từ Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cơ cấu giống tại Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 cho thấy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 30% diện tích (khoảng 500.000 ha) là giống OM18; Đài Thơm 8 chiếm 21% diện tích; OM5451 chiếm 15% diện tích; chiếm khoảng hơn 20% còn lại là các giống khác.
Giống Đài Thơm 8 chiếm tỷ trọng rất cao trong vụ Đông Xuân nhưng lại không phù hợp cho vụ Hè Thu. Ngược lại, giống OM18 chiếm ưu thế rõ rệt trong vụ Hè Thu (gần 40% diện tích).
Tuy nhiên, Phó Chủ tịch Hiệp hội ngành hàng lúa gạo Việt Nam đánh giá, nông dân vẫn còn thói quen dùng lúa thịt để làm giống qua nhiều vụ (giống tự để), dẫn đến thoái hóa. Nhiều nông dân đang lấy giống lúa cũ để làm cho các vụ tiếp theo nhưng thực chất chất lượng đã thay đổi, không còn đúng giống ban đầu. Việc thay đổi giống liên tục mà không có sự xác nhận về giống sẽ làm giảm uy tín gạo xuất khẩu.
Việc chọn giống hiện nay không chỉ tập trung vào năng suất cao mà cần dựa theo nhu cầu thị trường (chọn giống theo yêu cầu của thương lái và đơn vị thu mua); giống phải thích hợp với điều kiện tự nhiên của từng vùng; ưu tiên các giống có hợp đồng thu mua và đảm bảo an toàn thực phẩm. “Cần thay đổi sang sử dụng giống xác nhận để đảm bảo chất lượng bền vững”, ông Tùng nhấn mạnh.
Với nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu chọn tạo các giống lúa năng suất cao, chất lượng tốt và thích nghi với điều kiện khắc nghiệt, trong suốt 45 năm qua, Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long Viện đã phóng thích hơn 180 giống lúa. Hiện nay, diện tích gieo trồng các giống lúa do Viện Lúa chọn tạo (thương hiệu OM) chiếm từ 60-70% tổng diện tích lúa tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước, các giống lúa chủ lực như OM5451, OM18, OM4900... đã lan tỏa rộng khắp cả nước và được trồng tại nhiều quốc gia thuộc Đông Nam Á, Nam Á, châu Mỹ Latinh và châu Phi. Đặc biệt, trong những năm hạn mặn khốc liệt, các giống lúa chống chịu mặn như OM2517, OM6976, OM18, OM3... đã giúp nông dân giảm thiểu tối đa thiệt hại./.