Tin tức

Khẳng định lợi thế đối ngoại từ sức mạnh nội sinh

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, cùng với những biến động sâu sắc của kinh tế thế giới, yêu cầu đặt ra đối với công tác đối ngoại không chỉ dừng lại ở việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định mà còn phải góp phần trực tiếp tạo động lực cho tăng trưởng, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế quốc gia.
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng ngày 11/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; đồng thời mở rộng không gian phát triển mới, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam. Đây được xem là một trong những định hướng lớn để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV của Đảng đã đề ra. 

Theo bà Thái Quỳnh Mai Dung, Ủy viên Thường trực Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, việc triển khai Nghị quyết số 06-NQ/TW cho thấy sự chuyển biến quan trọng trong tư duy đối ngoại của Việt Nam. Bà Thái Quỳnh Mai Dung cho rằng, việc chuyển mạnh tư duy sang “ngoại giao phục vụ phát triển” là bước ngoặt chiến lược, biến đối ngoại từ hỗ trợ chính trị thành động lực trực tiếp cho tăng trưởng.
 
Trong bối cảnh biến động toàn cầu, cách tiếp cận này giúp Việt Nam mở rộng không gian phát triển, gắn kết đối ngoại chặt chẽ với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, kết nối các sáng kiến hạ tầng - logistics - chuỗi cung ứng - tài chính xanh; nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chủ động tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để đất nước tập trung củng cố nguồn lực nội sinh, ứng phó với cạnh tranh của các nước lớn. 

Điều này tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa khát vọng phát triển, hoàn thành các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV đề ra, đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Thực tế cho thấy dư địa khai thác các nguồn lực từ hội nhập quốc tế, ngoại giao kinh tế, ngoại giao khoa học - công nghệ và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, theo bà Dung, việc chuyển hóa các lợi thế đối ngoại thành nguồn lực thực chất cho phát triển kinh tế - xã hội chưa đạt được như kỳ vọng là do năng lực hấp thụ công nghệ kém. Mặc dù Việt Nam thu hút FDI nhiều nhưng chủ yếu là lắp ráp, gia công thâm dụng lao động, tỷ lệ chuyển giao công nghệ lõi và kết nối doanh nghiệp nội địa với chuỗi cung ứng toàn cầu chưa cao. 

Bên cạnh đó, việc tận dụng các FTA chưa hiệu quả, các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là hàng gia công, hàng thô, việc đáp ứng quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn xanh (CBAM, quy định chống phá rừng) và phòng vệ thương mại tại các FTA thế hệ mới còn lúng túng; hạ tầng và nhân lực thiếu hụt: chi phí logistics cao, hạ tầng số chưa đồng bộ. Nhân lực chất lượng cao trong các ngành chip bán dẫn, AI, công nghệ xanh chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư lớn.

Phân tích nguyên nhân, bà Dung cho rằng, năng lực nội tại của doanh nghiệp yếu, quy mô doanh nghiệp Việt chủ yếu là nhỏ và vừa, thiếu vốn, công nghệ lạc hậu và thiếu chủ động nghiên cứu thị trường. Việc phối hợp liên ngành lỏng lẻo, chưa có sự kết nối hiệu quả giữa ngoại giao (phát hiện cơ hội) với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp (thực thi). Thể chế chậm hoàn thiện: thủ tục hành chính còn rườm rà, việc nội luật hóa các cam kết quốc tế đôi lúc chưa đồng bộ.

Để đối ngoại không chỉ dừng lại ở việc “mở đường”, mà thực sự trở thành một “nguồn lực phát triển”, bà Thái Quỳnh Mai Dung nhấn mạnh, trước hết phải phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và kiến tạo cục diện quốc tế thuận lợi cho đất nước. Đối ngoại cũng cần trở thành động lực mở ra không gian phát triển mới, gắn kết chặt chẽ với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thu hút nguồn lực và các điều kiện thuận lợi từ bên ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững. 

Cùng với đó, phải chủ động tham gia, đóng góp trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế; nâng cao vai trò và vị thế tại các cơ chế đa phương; phát huy sức mạnh mềm văn hóa, nâng tầm vị thế quốc gia tương xứng với tầm vóc lịch sử và bản sắc dân tộc; xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp, ngang tầm nhiệm vụ chiến lược trong kỷ nguyên mới.

Theo Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, Viện trưởng Viện Chính trị và Quan hệ quốc tế (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), việc mở rộng quan hệ ngoại giao không phải để “có thêm bạn” chung chung, mà để đem về dòng vốn chất lượng cao, thị trường ổn định, cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, gắn trực tiếp với từng ngành, từng vùng và từng dự án trọng điểm.

Tiến sĩ Đào Ngọc Báu nhấn mạnh, ngoại giao khoa học - công nghệ cần mở được các kênh hợp tác về nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ trong những lĩnh vực then chốt như kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, qua đó biến “quan hệ” thành năng lực công nghệ và chất lượng nhân lực cụ thể của Việt Nam.

Về hội nhập quốc tế, theo Tiến sĩ Báu, trọng tâm không chỉ dừng ở việc tham gia thêm cơ chế, ký thêm hiệp định, mà là triển khai cho “trúng” các ưu tiên phát triển trong nước. Mỗi cam kết hội nhập phải được thiết kế, tổ chức thực hiện sao cho tạo thêm dư địa chính sách, thêm dư địa thị trường và thêm động lực đổi mới cho doanh nghiệp, địa phương, chứ không chỉ dừng ở ý nghĩa đối ngoại thuần túy. 

Tiến sĩ Đào Ngọc Báu nêu quan điểm, để hiện đại hóa nền ngoại giao Việt Nam trong bối cảnh mới, có ba hướng đột phá cần được ưu tiên. Trước hết cần đổi mới tổ chức và cơ chế làm việc. Cần xây dựng một cơ chế điều phối đối ngoại thực sự thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến địa phương, bảo đảm tiếng nói của đối ngoại được lồng ghép ngay từ khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển. 

Đòi hỏi đặt ra hiện nay là phải có đội ngũ cán bộ đối ngoại có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thông ngoại ngữ, luật pháp và thông lệ quốc tế, hiểu sâu về kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, xã hội. Muốn vậy, cần đổi mới khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, đánh giá; gắn chặt tiêu chuẩn chức danh với năng lực thực thi trong môi trường quốc tế phức tạp. Đồng thời, sử dụng nhiều cách thức với những cơ chế linh hoạt hơn để thu hút nhân lực chất lượng cao từ các viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp vào làm công tác đối ngoại.

Hơn nữa, ngoại giao hiện đại không thể tách rời việc sử dụng dữ liệu lớn, công cụ phân tích và các nền tảng số trong thu thập, xử lý thông tin, trong xây dựng kịch bản và tư vấn chính sách. Cần đầu tư xây dựng các trung tâm phân tích, dự báo, kết nối chặt chẽ giữa cơ quan đối ngoại với mạng lưới học giả, chuyên gia trong nước và quốc tế. Đồng thời cần trang bị cho cán bộ đối ngoại kỹ năng làm việc trong môi trường số, chủ động hơn trước các thách thức mới như truyền thông xã hội, thông tin sai lệch, an ninh mạng.

Có thể thấy, Nghị quyết số 06-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, mà còn mở ra một tư duy phát triển mới: đối ngoại phải góp phần trực tiếp tạo dựng động lực tăng trưởng.

Tuy nhiên, để biến các lợi thế từ hội nhập quốc tế thành nguồn lực thực chất, điều quan trọng không chỉ nằm ở việc mở rộng quan hệ đối ngoại, mà còn ở năng lực nội sinh của nền kinh tế. Nguồn lực bên ngoài chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi cùng với năng lực hấp thụ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, hệ thống hạ tầng hiện đại và một môi trường thể chế thông thoáng.
 
Nói cách khác, trong kỷ nguyên phát triển mới, đối ngoại không chỉ có nhiệm vụ "mở đường", mà còn phải góp phần "dẫn đường" cho tăng trưởng. Nhưng để con đường ấy đi đến đích, điều quyết định cuối cùng vẫn là sức mạnh nội tại của nền kinh tế và khả năng chuyển hóa những lợi thế của hội nhập thành năng lực cạnh tranh quốc gia…/.

Báo ảnh Việt Nam/TTXVN


Top