Vang bóng một thời
Theo các bậc cao niên tại địa phương, tên gọi Chú Tượng đã gắn bó với nghề đúc truyền thống từ nhiều đời nay. Trong đó, “Chú” là thợ, “Tượng” là đúc, ghép lại mang ý nghĩa là làng của những người thợ đúc. Nghề cha truyền con nối này từng trở thành thương hiệu nổi tiếng khắp Quảng Ngãi từ khoảng thế kỷ XVII.
Thời kỳ hoàng kim, làng Chú Tượng quy tụ hàng trăm hộ gia đình chuyên sản xuất đồ gia dụng, thủ công mỹ nghệ, đồ thờ cúng, nhạc cụ và vũ khí mà nổi tiếng nhất là kỹ thuật đúc chuông. Những quả đại hồng chung tinh xảo, ngân vang tại các ngôi chùa lớn như Thiên Ấn, chùa Ông, chùa Thình Thình, chùa Diệu Giác... chính là minh chứng rõ nét cho tài hoa của những người thợ nơi đây.
Theo ông Cao Văn Chư, nguyên Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi, nghề đúc đồng Chú Tượng là di sản thủ công truyền thống giàu giá trị, gắn chặt với tiến trình lịch sử và lưu giữ nét văn hóa đặc sắc của vùng đất miền Trung. Dấu ấn thịnh vượng ấy từng được đúc kết qua câu vè: “Đúc một ống ngoáy trầu hơn làm một sào ruộng”. Thợ của làng Chú Tượng không chỉ làm ra nồi đồng, mâm thao, chân hương mà còn đảm nhận những đơn hàng khó như chiêng, chuông lớn, tượng Phật. Đặc biệt, trong những năm tháng kháng chiến cứu nước của dân tộc, những người thợ đúc đồng nơi đây còn tham gia đúc vũ khí, lựu đạn phục vụ phong trào cách mạng.
Sách sử và tư liệu cũng ghi nhận tài hoa của thợ làng Chú Tượng. Trong tác phẩm "Nghề thủ công truyền thống ở Quảng Ngãi" (do Nguyễn Ngọc Trạch chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2003, tr. 78), viên công sứ Pháp Laborde từng viết trong tập "L’Annamite" (hoặc L’Annamen): “Ở làng này, người ta làm các đồ đồng khá lớn. Quả chuông lớn ở chùa Thiên Ấn cao gần 1m và đường kính 0,5m đã được đúc ở Chú Tượng. Chuông ấy khá đẹp như một vật trang trí”. Cũng tại trang 78 của tài liệu này, sách "Quảng Ngãi tỉnh chí" do Nguyễn Bá Trác soạn năm 1933 có đề cập đến hai người thợ tài hoa của vùng đất này là ông Võ Hiệt và thợ Kinh. Trong đó, thợ Kinh từng được vời về kinh đô Huế để đúc tượng đồng, thậm chí Toàn quyền Pháp Pasquier cũng từng yêu cầu ông đến Tòa Khâm sứ để thực hiện công việc...
Trăn trở bài toán giữ nghề
Đằng sau vẻ ngoài sáng bóng, tinh xảo của một chiếc nồi đồng hay bộ lư cúng là cả một quy trình lao động thủ công vô cùng khắt khe, đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn và bề dày kinh nghiệm của người thợ.
Chia sẻ về nghề, ông Đỗ Đức Cảm (56 tuổi) cho biết, công đoạn quyết định độ bền của sản phẩm là làm khuôn đất. Đất sét tuyển chọn được nhào trộn cùng trấu theo tỷ lệ 70% đất sét và 30% trấu để tạo độ dai dẻo, chịu nhiệt cực cao. Người thợ dùng tay nén, đắp, tạo hình rồi trực tiếp đục chạm từng đường nét hoa văn hoàn toàn thủ công. Khuôn sau khi nung chín bằng củi sẽ được ráp khít để bước vào công đoạn quan trọng nhất: nấu và rót đồng. Người thợ phải kiểm soát chuẩn xác nhiệt độ, xác định đúng thời điểm rót và thao tác dứt khoát. Đồng nguyên liệu được nấu trong nồi đất bằng lò than duy trì ở nhiệt độ khoảng 1.000°C trong vòng 45 phút cho đến khi hóa lỏng hoàn toàn.
Việc bưng nồi đồng nóng bỏng rót trực tiếp vào khuôn là công đoạn nguy hiểm bậc nhất. Khi đồng nguội, lớp khuôn đất được phá bỏ, phôi sản phẩm tiếp tục được cắt gọt, mài giũa và đánh bóng thủ công kết hợp máy móc để đạt độ nhẵn mịn, ánh vàng đặc trưng. Trong đó, nồi đồng vẫn là mặt hàng giữ được sức tiêu thụ ổn định, có độ bền từ 30-40 năm, rất được ưa chuộng trong việc nấu nướng, phục vụ đồng bào các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên hay các cơ sở làm bánh tráng thủ công.
Nghề đúc đồng vốn cực kỳ nặng nhọc, khói bụi, nhiệt độ cao trong khi thu nhập không tương xứng. Trước vô số ngành nghề dịch vụ nhẹ nhàng hơn, thế hệ trẻ dần rời xa làng nghề truyền thống.
Ở tuổi 66, nghệ nhân Trần Dục tại thôn Đức Hiệp vẫn ngày đêm bám trụ với lò đúc. Với ông, đây không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gia đình, di sản thiêng liêng của tiền nhân. Nghề của cha ông để lại, ông còn sức khỏe ngày nào thì cố gắng giữ ngày đó. Điều canh cánh nhất của ông cũng như các bậc cao niên chính là nguy cơ thất truyền khi thiếu vắng người nối nghiệp.
Nhận thức rõ giá trị lịch sử và văn hóa, chính quyền địa phương đang gắn kết công tác bảo tồn với bài toán sinh kế. Ông Nguyễn Văn Thạch, Phó Chủ tịch UBND xã Long Phụng cho biết, chính quyền đang định hướng kết nối làng nghề với mô hình du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái. Du khách khi đến Chú Tượng sẽ được trực tiếp quan sát toàn bộ quy trình làm khuôn, nấu đồng và hoàn thiện sản phẩm. Bên cạnh đó, việc kết nối người sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ để tạo đầu ra ổn định sẽ là động lực mạnh mẽ để người dân bám trụ với lửa nghề.
Bảo tồn làng đúc đồng Chú Tượng không chỉ là duy trì lác đác vài ngọn lửa lò. Điều cốt lõi là người nghệ nhân phải chủ động thích ứng nhịp sống thị trường, cải tiến mẫu mã trên cơ sở gìn giữ kỹ thuật gốc. Có như vậy, tiếng búa đúc đồng bên dòng sông quê mới tiếp tục ngân vang, giữ trọn “hồn lửa” làng nghề qua những thăng trầm thời gian./.




