Đây là không gian đối thoại trực tiếp giữa Thủ tướng Chính phủ Việt Nam và Lãnh đạo cấp cao WEF, cùng trao đổi về những chuyển động của kinh tế toàn cầu, những động lực tăng trưởng mới và những cơ hội hợp tác trong giai đoạn phát triển mới.
Trả lời câu hỏi Việt Nam nhìn nhận ra sao về sự dịch chuyển từ trật tự đơn cực, dựa trên luật lệ sang một kỷ nguyên bất định gia tăng (với đặc trưng là phân mảnh địa kinh tế, cạnh tranh công nghệ và tái định hình chuỗi cung ứng) và điều này có ý nghĩa gì với quỹ đạo phát triển đất nước, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, trước những biến động sâu sắc của tình hình thế giới và khu vực, tương quan sức mạnh toàn cầu tiếp tục dịch chuyển theo hướng đa cực, đa trung tâm; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế, công nghệ, dữ liệu, năng lượng và các chuẩn mực về thương mại, đầu tư, môi trường, quản trị. Toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn nhưng đang được tái cấu trúc, với xu hướng phân mảnh gia tăng và yêu cầu ngày càng cao về an ninh, tự chủ, sức chống chịu. Trong khi đó, sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, quản trị cũng như cách thức phân bổ lợi thế và nguồn lực phát triển.
Từ thực tiễn đó, Thủ tướng cho rằng có ba thách thức lớn, gắn bó chặt chẽ với nhau, đang đặt ra đối với Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
Thứ nhất, các cơ chế và luật lệ chung toàn cầu cần được đổi mới, điều chỉnh để theo kịp những biến động nhanh chóng của tình hình quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.
Thứ hai, mô hình tăng trưởng dựa vào các động lực truyền thống đang bộc lộ những giới hạn, đặc biệt đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải tìm kiếm những mô hình phát triển và tăng trưởng mới.
Thứ ba, lòng tin chiến lược suy giảm trong khi cạnh tranh gia tăng đặt ra yêu cầu đổi mới, tổ chức lại các mô hình hợp tác, đầu tư và phối hợp giữa các quốc gia. Theo Thủ tướng, xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược là điều kiện quan trọng để thúc đẩy hợp tác và phát triển; nếu không có lòng tin, các quốc gia khó có thể hợp tác hiệu quả.
Trước những thách thức này, Thủ tướng nhấn mạnh năng lực phát triển của một quốc gia không chỉ được quyết định bởi quy mô hay lợi thế so sánh, mà còn phụ thuộc vào sức chống chịu, mức độ tự chủ chiến lược và khả năng tạo lập những động lực, nguồn lực tăng trưởng mới.
Điều đó đòi hỏi các quốc gia phải đa dạng hóa thị trường, đối tác và nguồn cung; đồng thời đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng với đó, mô hình quản trị quốc gia cần được tiếp tục đổi mới; hoàn thiện tổ chức bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương theo hướng phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp; giảm thời gian, chi phí tuân thủ, nâng cao chất lượng quản lý, điều hành.
Đối với Việt Nam, Thủ tướng cho biết, trước những thay đổi sâu sắc mang tính thời đại của tình hình thế giới và khu vực, Việt Nam đã chủ động nhận diện thách thức, hoạch định và triển khai các chủ trương, đường lối, chiến lược nhằm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trong đó, Việt Nam tập trung vào ba định hướng chiến lược trọng tâm gồm: tăng cường, củng cố tự chủ chiến lược gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả; đổi mới căn bản, toàn diện mô hình phát triển đất nước, trong đó có mô hình tăng trưởng, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực quan trọng hàng đầu; tập trung đổi mới, cải cách thể chế gắn với nâng cao năng lực quản trị quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Thủ tướng khẳng định những định hướng và quyết sách này thể hiện tinh thần chủ động của Việt Nam trong thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế và khu vực. Việt Nam mong muốn tăng cường hợp tác phát triển, thúc đẩy toàn cầu hóa, đa phương hóa, đổi mới các thể chế và phương thức hợp tác, quản trị toàn cầu vì lợi ích chung.
*Củng cố tự chủ chiến lược, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế
Chia sẻ về cách Việt Nam xây dựng năng lực chống chịu - thông qua khoa học công nghệ, chuyển đổi số và cải cách thể chế - để hấp thụ biến động, Thủ tướng chỉ rõ, tăng cường sức chống chịu đang là vấn đề được nhiều quốc gia, doanh nghiệp và nền kinh tế quan tâm trước những tác động đa chiều của tình hình thế giới. Sức chống chịu của một quốc gia không chỉ là khả năng vượt qua các cú sốc, mà quan trọng hơn là khả năng thích ứng, phục hồi, chủ động đổi mới, sáng tạo để phát triển mạnh mẽ hơn sau những biến động.
Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở cao, những biến động từ bên ngoài có thể tác động nhanh chóng và trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và các mục tiêu phát triển. Vì vậy, bên cạnh việc xử lý các vấn đề ngắn hạn, Việt Nam chủ động xây dựng và triển khai các chính sách phát triển dài hạn, có tính chiến lược, tập trung vào những nền tảng quan trọng để củng cố năng lực tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế.
Thủ tướng cho biết, trước hết, Việt Nam kiên định mục tiêu ổn định kinh tế - xã hội, củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô, coi đây là điều kiện tiên quyết để nâng cao sức chống chịu của quốc gia. Việc duy trì ổn định sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân, cộng đồng doanh nghiệp trong nước, các nhà đầu tư và đối tác nước ngoài. Các chính sách kinh tế vĩ mô tiếp tục được điều hành linh hoạt nhằm bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, an ninh năng lượng và an ninh lương thực trong bối cảnh thế giới biến động mạnh.
Cùng với đó, Việt Nam chú trọng nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và khả năng xây dựng, triển khai các phản ứng chính sách kịp thời, đúng thời điểm, qua đó giảm thiểu tác động tiêu cực từ bên ngoài.
Về giải pháp thứ hai, Thủ tướng nhấn mạnh Việt Nam ưu tiên xây dựng, hoàn thiện thể chế và khuôn khổ pháp lý đồng bộ, hiện đại, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, tạo đột phá cho tăng trưởng cao và bền vững, đồng thời nâng cao năng lực quản trị quốc gia. Việt Nam đang khẩn trương hoàn thiện thể chế, pháp luật để xác lập mô hình phát triển mới; đổi mới phương thức quản trị quốc gia trên cơ sở nâng cao năng lực tổ chức thực hiện của bộ máy chính quyền các cấp, ứng dụng công nghệ và dữ liệu. Chính phủ cũng tập trung tháo gỡ các rào cản, điểm nghẽn về thể chế, cơ chế, chính sách, tạo thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư và huy động nguồn lực phát triển.
Thời gian tới, Chính phủ sẽ tiếp tục phối hợp với Quốc hội hoàn thiện đồng bộ thể chế, khơi thông và tập trung các nguồn lực, huy động hiệu quả nguồn lực trong nước và quốc tế phục vụ phát triển đất nước.
Cùng với cải cách thể chế, Việt Nam ưu tiên triển khai các đột phá chiến lược về hạ tầng, bao gồm hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng và các hạ tầng thiết yếu khác; đồng thời thúc đẩy khoa học, công nghệ, từng bước làm chủ công nghệ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh...
Một nhiệm vụ quan trọng khác là thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư quốc tế. Việt Nam định hướng thu hút đầu tư có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục củng cố năng lực sản xuất trong nước, nâng cao mức độ tự chủ chiến lược đối với các mặt hàng thiết yếu như lương thực, năng lượng, sẵn sàng ứng phó khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn; đồng thời đầu tư phát triển hạ tầng chiến lược, tăng cường phòng, chống thiên tai, quản trị rủi ro và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Thủ tướng nhấn mạnh, các nhiệm vụ này đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn. Vì vậy, Việt Nam đã xác định mục tiêu, lộ trình cụ thể và sẽ tiếp tục huy động các nguồn lực trong nước, ngoài nước để thực hiện các định hướng chiến lược.
Mặt khác, Thủ tướng cho biết Việt Nam sẽ đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, ưu tiên giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, thích ứng với những thay đổi về cơ cấu việc làm và sự xuất hiện của các ngành nghề mới. Đồng thời, Việt Nam tiếp tục củng cố cục diện đối ngoại, đa dạng hóa quan hệ nhằm mở rộng không gian phát triển. Các hoạt động hợp tác quốc tế, trong đó có Diễn đàn Kinh tế Mùa thu do WEF phối hợp với các cơ quan và Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, là một trong những nỗ lực nhằm tăng cường quan hệ hợp tác với các đối tác quốc tế.
Thủ tướng khẳng định tự chủ không có nghĩa là khép kín, mà là nâng cao năng lực tự quyết, đồng thời mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế chủ động, sâu rộng và hiệu quả. Theo đó, Việt Nam tiếp tục đa dạng hóa thị trường, đối tác, nguồn vốn, công nghệ, năng lượng và chuỗi cung ứng; khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã ký kết; củng cố quan hệ cân bằng, ổn định, cùng có lợi với các đối tác và tích cực tham gia các cơ chế đa phương.
Với định hướng này, Việt Nam không chỉ nâng cao khả năng chống chịu trước các cú sốc mà còn chủ động chuyển hóa thách thức thành cơ hội, hướng tới phát triển nhanh, bền vững và bao trùm, vì lợi ích của Việt Nam và các đối tác quốc tế.
*Định vị Việt Nam là trung tâm công nghệ, năng lượng xanh và sản xuất nông nghiệp xanh
Trước câu hỏi hướng đến năm 2035, Việt Nam mong muốn đóng vai trò gì trong kiến trúc kinh tế toàn cầu đang định hình - và những thế mạnh đặc trưng nào Việt Nam có thể mang lại với tư cách một trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo và kết nối cho các mạng lưới tăng trưởng mới, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chuyển đổi mạnh mẽ, Việt Nam mong muốn từng bước định hình vị thế mới trong nền kinh tế khu vực và thế giới, hướng tới trở thành trung tâm công nghệ số mới nổi, trung tâm năng lượng mới, năng lượng xanh, năng lượng sạch và trung tâm sản xuất nông nghiệp xanh của khu vực và thế giới.
Việt Nam cũng đặt mục tiêu trở thành mắt xích quan trọng, đáng tin cậy trong các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đồng thời tham gia vào các cực tăng trưởng mới; qua đó đóng góp ngày càng tích cực vào tăng trưởng của khu vực và thế giới thông qua thể chế, quản trị hiện đại, năng lực cạnh tranh và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Việt Nam có những lợi thế và nền tảng quan trọng. Trước hết, Việt Nam có vị trí địa chiến lược thuận lợi, môi trường chính trị ổn định, kinh tế vĩ mô vững chắc và triển vọng tăng trưởng tích cực. Cùng với đó, vị trí địa chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương năng động, mạng lưới các hiệp định thương mại tự do rộng mở và quan hệ kinh tế đa dạng với nhiều đối tác tạo nền tảng để Việt Nam trở thành điểm kết nối giữa các thị trường, chuỗi cung ứng, dòng vốn và hệ sinh thái công nghệ.
Cùng với đó, Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với tầm nhìn chiến lược, mục tiêu lớn, quyết tâm cao và hành động quyết liệt, trong bối cảnh kinh tế thế giới có những chuyển dịch sâu sắc. Khi dòng vốn và chuỗi cung ứng toàn cầu dịch chuyển theo hướng số hóa, xanh hóa và công nghệ cao, Việt Nam cũng đang đẩy mạnh đổi mới mô hình phát triển, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực. Việt Nam đồng thời thúc đẩy nâng cao năng lực doanh nghiệp, tái cấu trúc chuỗi cung ứng, mở rộng không gian tăng trưởng và củng cố niềm tin dài hạn của các nhà đầu tư, đối tác. Việt Nam cũng ưu tiên cải cách thể chế, tạo môi trường thuận lợi và áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù để đáp ứng kịp thời yêu cầu phát triển.
Theo Thủ tướng, với lợi thế của một nền kinh tế có độ mở cao, khả năng thích ứng nhanh, Việt Nam có điều kiện tiếp thu công nghệ và mô hình tiên tiến, rút ngắn lộ trình phát triển, biến những dịch chuyển của kinh tế thế giới thành động lực đổi mới, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Ngoài ra, Việt Nam có nền tảng nội lực đủ rộng để vừa tiếp nhận, vừa đóng góp vào các mạng lưới tăng trưởng mới. Với quy mô dân số hơn 100 triệu người, nguồn nhân lực dồi dào, truyền thống coi trọng giáo dục, kỹ năng và khả năng học hỏi, thích ứng nhanh, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Nền sản xuất đã được kiểm chứng qua nhiều năm tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cùng thị trường lớn, năng động và tiềm năng đa dạng về nông nghiệp, kinh tế biển, khoáng sản chiến lược, năng lượng tái tạo và đa dạng sinh học, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển. Sự kết hợp giữa nguồn nhân lực, năng lực sản xuất, quy mô thị trường và các nguồn lực sẵn có không chỉ giúp Việt Nam thu hút đầu tư, tiếp nhận công nghệ mà còn nâng cao khả năng tham gia tạo ra các giá trị công nghệ mới và những động lực tăng trưởng mới.
Liên quan đến câu hỏi Việt Nam làm thế nào để duy trì tính tự chủ chiến lược và chính sách đối ngoại cân bằng, đa phương hóa, đa dạng hóa – là đối tác tin cậy của tất cả các bên, không ngả theo một cực nào – trong khi vẫn tăng cường hội nhập với các động lực tăng trưởng toàn cầu, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc.
Theo Thủ tướng, trước tình hình quốc tế biến động nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc, tự chủ chiến lược có nghĩa là Việt Nam phải củng cố năng lực nội tại, giữ vững quyền tự quyết, chủ động lựa chọn phương thức hợp tác phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc; đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các đối tác.
Việt Nam sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Dù tình hình thế giới diễn biến như thế nào, Việt Nam vẫn kiên định mục tiêu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước và chủ động đóng góp trách nhiệm vào các vấn đề chung, vì hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Để bảo đảm tự chủ chiến lược, Việt Nam xác định phải dựa vào nội lực, nâng cao sức mạnh tự cường, đặc biệt là năng lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế; tiếp tục hỗ trợ doanh nghiệp trong nước phát triển, đẩy mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo... Cùng với đó, Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng, tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do đã ký kết để mở rộng thị trường, đa dạng hóa đối tác, thu hút nguồn lực về vốn, công nghệ và tri thức phục vụ phát triển.
Thủ tướng nhấn mạnh, khi Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc, năng lực tự chủ, tự cường của đất nước sẽ được nâng cao, qua đó tăng cường khả năng đóng góp vào hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới.
*Mong muốn các đối tác chuyển từ tìm kiếm cơ hội sang đồng hành phát triển
Chia sẻ về những kỳ vọng và cam kết của Việt Nam đối với các đối tác quốc tế như WEF, các chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp toàn cầu, Thủ tướng cho rằng thế giới đang trải qua thời điểm bước ngoặt với những chuyển đổi mang tính nền tảng trên mọi ngành, lĩnh vực. Vì vậy, tư duy hợp tác cũng cần được đổi mới, chuyển từ phối hợp thực thi sang đồng hành chiến lược, từ khai thác cơ hội sang chủ động kiến tạo cơ hội, từ chia sẻ lợi ích sang chia sẻ trách nhiệm và cùng định hình tương lai.
Trên tinh thần đó, Việt Nam mong muốn các đối tác không chỉ đến tìm kiếm cơ hội mà còn cùng Việt Nam hoạch định, cụ thể hóa những ý tưởng, giải pháp và động lực phát triển mới thành các dự án, sản phẩm cụ thể; cùng chia sẻ trách nhiệm, kiên trì phối hợp để đạt được kết quả thực chất.
Đối với chính phủ các nước, Việt Nam mong muốn tăng cường hợp tác nhằm củng cố môi trường hòa bình, ổn định, mở rộng các động lực phát triển mới, gắn kết tầm nhìn và lợi ích chiến lược dài hạn. Các bên cần cùng xây dựng những khuôn khổ hợp tác cởi mở, công bằng, bền vững, nhất là trong kết nối kinh tế, thương mại, đầu tư, phát triển hạ tầng và thúc đẩy khoa học, công nghệ; đồng thời phối hợp định hình những khuôn khổ, chuẩn mực hợp tác mới vì lợi ích của người dân và cộng đồng doanh nghiệp, để thành quả phát triển được chuyển hóa thành chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn.
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài, Thủ tướng kêu gọi tăng cường chia sẻ công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản trị, tham gia đào tạo nguồn nhân lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nhất là trong các ngành công nghiệp trọng điểm. Các tập đoàn quốc tế được kỳ vọng hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng suất, phát triển hệ sinh thái công nghiệp, tăng cường liên kết và tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh yêu cầu đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm thành công của doanh nghiệp song hành với sự phát triển bền vững của Việt Nam.
Đánh giá cao vai trò kết nối, hợp tác và tiên phong thúc đẩy các sáng kiến toàn cầu của WEF, Thủ tướng đề nghị Diễn đàn tiếp tục hỗ trợ Chính phủ và doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển. Việt Nam sẵn sàng trở thành đối tác chiến lược của WEF tại khu vực, cùng thúc đẩy các ý tưởng, sáng kiến mới, triển khai những mô hình sáng tạo, mang lại lợi ích cho Việt Nam, khu vực và thế giới.
Gửi thông điệp tới cộng đồng quốc tế, các đối tác và doanh nghiệp tại diễn đàn, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam không chỉ là điểm đến đầu tư mà còn mong muốn trở thành đối tác phát triển lâu dài; không chỉ tiếp nhận vốn và công nghệ mà còn hợp tác với các đối tác để cùng phát triển, kiến tạo tương lai chung vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng và bền vững.
Việt Nam đang triển khai những đổi mới mạnh mẽ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong quá trình chuyển đổi này, Việt Nam mong muốn các đối tác nhìn thấy không chỉ nhu cầu đầu tư, mở rộng thị trường mà còn những cơ hội cùng nghiên cứu, phát triển sản phẩm và đào tạo nguồn nhân lực.
Với tinh thần chuyển từ “đầu tư tại Việt Nam” sang “đầu tư cùng Việt Nam”, Thủ tướng mong muốn các doanh nghiệp, nhà đầu tư quốc tế tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước, các viện nghiên cứu và trường đại học Việt Nam để cùng phát triển công nghệ, nguồn nhân lực và mạng lưới nhà cung ứng. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp Việt Nam sẽ tạo thêm những đối tác có năng lực, góp phần nâng cao hiệu quả, khả năng thích ứng và sức cạnh tranh của mạng lưới sản xuất, kinh doanh mà các bên cùng tham gia, qua đó mang lại lợi ích thiết thực cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Về phía Chính phủ Việt Nam, Thủ tướng khẳng định sẽ kiên định mục tiêu tăng trưởng nhanh, tăng trưởng cao trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô vững chắc; tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng thực thi pháp luật, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Chính phủ sẽ tiếp tục duy trì đối thoại, lắng nghe, phối hợp xử lý kịp thời các kiến nghị, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư theo thẩm quyền và quy định pháp luật; đồng thời triển khai mạnh mẽ các cam kết trong thời gian tới.
Thủ tướng bày tỏ mong muốn thành công của cộng đồng nhà đầu tư nước ngoài sẽ song hành với sự phát triển của Việt Nam; kêu gọi các bên tăng cường hợp tác, cùng đầu tư cho công nghệ, con người và tương lai, xây dựng những mối quan hệ hợp tác bền vững, cùng có lợi và có trách nhiệm với cộng đồng.
Dịp này, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chứng kiến công bố quan hệ đối tác giữa Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và WEF, đánh dấu bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác giữa Thành phố và WEF./.



