Tin tức

Phát triển nuôi tôm nước lợ bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Nhằm từng bước tháo gỡ những điểm nghẽn và tìm kiếm định hướng phát triển ổn định ngành nuôi tôm nước lợ, sáng ngày 29/10, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ tổ chức Diễn đàn Khuyến nông & Nông nghiệp với chủ đề “Ứng dụng các giải pháp tiến bộ kỹ thuật phát triển nuôi tôm nước lợ bền vững tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long”.
Chuyên gia chia sẻ các giải pháp kỹ thuật về quản lý chất lượng nước và kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm trên tôm. Ảnh: Trung Kiên - TTXVN

 

Diễn đàn có sự tham gia của các cấp sở, ngành, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp và nông dân đến từ Cần Thơ, Cà Mau, An Giang, Vĩnh Long cùng thảo luận và đề xuất các giải pháp công nghệ tiên tiến nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao giá trị chuỗi ngành hàng tôm Việt Nam.

Nuôi tôm nước lợ là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sinh kế cho người dân ven biển và duy trì vị thế xuất khẩu thủy sản của khu vực. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành này đang chịu tác động trực tiếp từ những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tình hình dịch bệnh.

 
Bên cạnh đó, các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về phát triển xanh của thị trường quốc tế, cùng với những hạn chế cốt lõi từ tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phải chuyển đổi phương thức canh tác và tổ chức lại sản xuất.

Theo ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, dù Việt Nam đang là một trong những “cường quốc” sản xuất tôm, ngành hàng tôm vẫn đang đối mặt với nhiều nguy cơ, đặc biệt là sự xuất hiện của các vùng nuôi bị dịch bệnh và các vấn đề về môi trường. Diễn đàn lần này nhằm kết nối nông dân, doanh nghiệp và nhà khoa học, qua đó tìm ra các giải pháp tối ưu giúp nông dân làm chủ công nghệ, hạn chế thiệt hại và hướng tới phát triển bền vững.

Lãnh đạo Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhận định, nhờ sự vào cuộc của các cơ quan nhà nước, viện trường và doanh nghiệp, ngành hàng tôm đã được tiếp cận với nhiều công nghệ tiên tiến. Tuy nhiên, việc kiểm soát chưa đồng bộ trong quy trình sản xuất, đặc biệt là ở các hộ nuôi nhỏ lẻ, từ khâu quản lý môi trường đến chất lượng nguồn nước, đang gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến các khu vực lân cận. Do đó, việc thiết lập một hệ thống kiểm soát toàn diện và sự tham gia chủ đạo của nhà nước trong việc kết nối hạ tầng phục vụ nuôi tôm là vô cùng cấp thiết.

Tại diễn đàn, các đại biểu tiến hành đánh giá toàn cảnh về hiện trạng nghề nuôi tôm nước lợ tại Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời tham gia phiên đối thoại mở và trao đổi vướng mắc về những thách thức của nghề nuôi tôm hiện nay.

Theo bà Châu Thị Tuyết Hạnh, Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), mặc dù Đồng bằng sông Cửu Long chiếm đến 93,2% diện tích và 87,2% sản lượng tôm nước lợ cả nước, rủi ro từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và thời tiết cực đoan vẫn đe dọa nghiêm trọng đến hiệu quả sản xuất, trong khi hệ thống cảnh báo môi trường tự động tại cơ sở còn nhiều hạn chế. Hệ lụy tất yếu là dịch bệnh bùng phát phức tạp; chỉ trong 9 tháng năm 2026, bệnh đốm trắng đã chiếm tới 41,5% diện tích nhiễm bệnh, hoại tử gan tụy chiếm 15,6%, cùng với vi bào tử trùng EHP khiến tôm chậm lớn và đội chi phí.

Bên cạnh áp lực dịch bệnh, giá thành sản xuất tôm hiện vẫn ở mức cao do phụ thuộc nặng nề vào nguồn vật tư nhập khẩu. Việc phải nhập ngoại tới 80% giống tôm thẻ chân trắng bố mẹ và khoảng 50% nguyên liệu thức ăn khiến chuỗi cung ứng dễ bị tổn thương trước biến động giá cả quốc tế.
 

Mặt khác, hệ thống hạ tầng vùng nuôi thiếu đồng bộ, chưa có kênh cấp thoát nước riêng biệt, cùng tỷ lệ cấp mã số vùng nuôi đạt thấp (khoảng 24,5%) đã gây khó khăn rất lớn cho khâu truy xuất nguồn gốc. Những hạn chế từ thói quen sản xuất phân tán này càng trở nên rủi ro khi thị trường xuất khẩu liên tục gia tăng tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, môi trường và các biện pháp phòng vệ thương mại.

Chia sẻ thực tế tại địa phương, bà Quách Thị Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Cần Thơ khẳng định, việc hiện thực hóa chỉ tiêu 245.000 tấn tôm nước lợ trên 51.000 ha sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp thành phố giữ vững đà tăng trưởng kinh tế, đồng thời cải thiện sinh kế cho người dân và nâng cao kim ngạch xuất khẩu.

Để giải quyết những thách thức mà ngành nuôi tôm nước lợ đang đối mặt, hướng đi của Cần Thơ không phải là mở rộng diện tích mà là tập trung đầu tư vào chất lượng nhằm nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm. Thành phố hiện đang triển khai và nhân rộng các mô hình nuôi hiệu quả như mô hình đạt chuẩn ASC hay mô hình thực hành nuôi tốt (VietGAP).

Ngoài ra, Cần Thơ còn áp dụng các giải pháp như hệ thống tuần hoàn nước (RAS), tích hợp hầm biogas, không sử dụng hóa chất kháng sinh cấm, nhằm đảm bảo nguồn tôm thương phẩm đạt độ an toàn và có thể truy xuất nguồn gốc rõ ràng. Địa phương cũng đang định hướng tiến tới tái chế các phụ phẩm từ tôm để xây dựng chuỗi sản xuất "xanh - sạch" theo định hướng phát triển bền vững.

Để tháo gỡ khó khăn, diễn đàn tập trung thảo luận sâu về nhiều nhóm giải pháp cốt lõi mang tính toàn diện. Về mặt công nghệ và môi trường, việc ứng dụng quy trình sinh học, hệ thống tuần hoàn nước (RAS), hầm biogas xử lý chất thải, cùng các công nghệ tự động hóa và chuyển đổi số như IoT, AI được xem là định hướng ưu tiên hàng đầu.

Chuyên gia cũng đề xuất các địa phương phát triển mô hình nuôi "thuận thiên" linh hoạt thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó tập trung thâm canh, siêu thâm canh tại vùng lõi và mở rộng mô hình tôm-lúa, tôm-rừng tại vùng ven biển ngập mặn. Nhằm chủ động nguồn đầu vào, các viện nghiên cứu cần tập trung gia hóa, chọn tạo giống tôm bố mẹ chất lượng, có sức chống chịu tốt để làm chủ nguồn cung trong nước, kết hợp tối ưu hóa dinh dưỡng để giảm hệ số thức ăn.

Về khâu tổ chức, ngành hàng tôm cần khắc phục triệt để tình trạng sản xuất manh mún bằng cách đẩy mạnh liên kết chuỗi, thành lập các hợp tác xã và tăng cường hợp tác công tư, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò "đầu tàu" dẫn dắt quá trình cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm. Đi kèm với đó là yêu cầu đẩy mạnh quy hoạch hạ tầng như hệ thống kênh cấp thoát nước riêng biệt, điện 3 pha, tăng cường cấp mã số vùng nuôi và áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế nhằm xây dựng chuỗi sản phẩm tôm "xanh - sạch" và minh bạch.

Bên cạnh các yếu tố kỹ thuật, khâu then chốt mang tính quyết định là phải chuyển đổi tư duy của người nuôi từ tự phát sang sản xuất có kiểm soát, tuân thủ kỷ luật vùng nuôi và ứng dụng nhật ký điện tử. Để hiện thực hóa điều này, vai trò của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cùng hệ thống khuyến nông cơ sở, khuyến nông cộng đồng là vô cùng quan trọng trong việc bám sát địa bàn, trực tiếp hỗ trợ kỹ thuật và nhân rộng các mô hình tiến bộ sát với thực tiễn, giúp nông dân vững tâm hướng tới sự phát triển bền vững./.

Báo ảnh Việt Nam/TTXVN

VIFTA – cầu nối đưa công nghệ Israel vào sản xuất tại Việt Nam

VIFTA – cầu nối đưa công nghệ Israel vào sản xuất tại Việt Nam

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Israel (VIFTA) không chỉ mở ra cơ hội thúc đẩy thương mại song phương mà còn tạo khuôn khổ thuận lợi để doanh nghiệp hai nước tăng cường hợp tác khoa học – công nghệ, chuyển giao kỹ thuật và phát triển các mô hình sản xuất có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, để biến những cơ hội này thành hiệu quả thực chất, Việt Nam cần chuyển từ nhập khẩu công nghệ sang hợp tác nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ, với sự tham gia chủ động của doanh nghiệp trong nước. Đó là nội dung trao đổi giữa ông Lê Thái Hòa - Tham tán Thương mại, phụ trách Thương vụ Việt Nam tại Israel với phóng viên TTXVN tại Tel Aviv.

Top