*Tăng liên kết, khắc phục đầu tư dàn trải
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), một trong những hạn chế ảnh hưởng đến quá trình phát triển vùng thời gian qua liên quan đến thể chế kết nối. Việt Nam đã có những thể chế về phát triển vùng, nhưng cơ chế để tạo không gian phát triển, kết nối các địa phương và kết nối giữa các vùng vẫn còn những hạn chế, nhất là khi trước đây một vùng có nhiều tỉnh, thành phố với nhiều đầu mối cùng tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mỗi địa phương có đặc điểm, lợi thế và điều kiện phát triển riêng. Trong khi đó, nếu thiếu đầu mối chung hoặc một cơ chế đủ mạnh về thể chế, tài chính và tổ chức thực hiện, việc phối hợp giữa các địa phương sẽ gặp khó khăn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến các nguồn lực của vùng chưa được huy động và sử dụng đồng bộ, trong khi từng địa phương vẫn có xu hướng tập trung vào những mục tiêu và lợi thế riêng của mình. Từ thực tế Nam Bộ, việc một địa phương mong muốn tạo ra những ưu thế và điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển trên địa bàn là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, nếu mỗi địa phương chủ yếu tổ chức nguồn lực trong phạm vi riêng, việc phối hợp trong toàn vùng sẽ khó đạt được hiệu quả như mong muốn. Nguy cơ cục bộ địa phương vì vậy vẫn có thể xuất hiện, nhất là trong bố trí nguồn lực, phát triển kết cấu hạ tầng và lựa chọn những lĩnh vực ưu tiên đầu tư. Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu tổ chức không gian phát triển kinh tế - xã hội của vùng theo hướng đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ; chuyển từ việc tổ chức lại không gian phát triển theo địa giới hành chính tỉnh, thành phố sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và liên kết vùng, liên kết ngành, tiểu vùng và địa phương trong vùng theo chức năng đã được xác định trong quy hoạch.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng cho rằng cách tiếp cận này mở ra điều kiện thuận lợi hơn để tổ chức sự phát triển trên cơ sở các cực tăng trưởng, những lĩnh vực có thế mạnh và tiềm năng của từng địa phương. Thay vì chỉ nhìn không gian phát triển theo địa giới hành chính, các địa phương có thể được đặt trong mối liên hệ rộng hơn, qua đó khai thác thế mạnh riêng đồng thời bổ trợ cho các khu vực khác trong vùng.
Việc sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn đầu mối cũng tạo thêm điều kiện để tăng cường sự phối hợp này. Trước đây, một vùng có nhiều tỉnh, thành phố nên quá trình thống nhất và tổ chức thực hiện phải qua nhiều đầu mối. Sau sắp xếp, số lượng địa phương giảm, cùng với mô hình chính quyền địa phương hiện nay, việc triển khai những công việc lớn, dự án lớn và những vấn đề cần sự phối hợp giữa các địa phương có thể thuận lợi hơn. Đối với Nam Bộ, đây là yếu tố có ý nghĩa bởi trước đây số lượng tỉnh, thành phố trong vùng khá lớn, quá trình thống nhất để thực hiện một nội dung chung phải có sự tham gia của nhiều địa phương. Khi số đầu mối được tinh gọn, việc phối hợp có điều kiện tập trung hơn, nhất là với các dự án và công trình đòi hỏi sự liên thông về hạ tầng, nguồn lực và không gian phát triển.
Tuy nhiên, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Tuấn Hưng, việc giảm số lượng địa phương không đồng nghĩa với nguy cơ cục bộ địa phương không còn. Dù số đầu mối ít hơn, mỗi địa phương vẫn mong muốn có những lợi thế vượt trội và điều kiện thuận lợi cho phát triển của mình. Vì vậy, nếu không có một cơ chế điều phối đủ mạnh, những hạn chế trong phối hợp và sử dụng nguồn lực vẫn có thể tiếp tục phát sinh.
Từ yêu cầu này, cơ chế liên vùng và liên địa phương cần được thiết lập mạnh mẽ hơn, trong đó Trung ương có vai trò thúc đẩy sự liên thông trên cơ sở thể chế chung. Chính phủ cần có cơ chế đủ rõ để tạo sự thống nhất trong triển khai Nghị quyết, đồng thời các kế hoạch phát triển phải cụ thể, gắn với nguồn lực tài chính và điều kiện thực hiện. Đặc biệt, đối với kết cấu hạ tầng và đầu tư công, cần tăng cường sự phối hợp trong bố trí và sử dụng nguồn lực. Khi những vấn đề chung của vùng được xem xét trên cơ sở phối hợp giữa các địa phương, việc triển khai có thể hạn chế tình trạng phân tán và khắc phục những bất cập đã tồn tại trong quá trình phát triển trước đây.
Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối vùng thật sự mạnh, thực chất, hiệu quả là khâu đột phá; bảo đảm đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực; xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, địa phương, hài hòa lợi ích giữa địa phương, vùng và quốc gia. Đối với các công trình liên vùng, Nghị quyết đề ra nguyên tắc các địa phương cùng quyết định, cùng góp vốn, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi. Theo cách tiếp cận này, sự liên kết không chỉ nằm ở việc thống nhất về chủ trương mà cần được cụ thể hóa bằng cơ chế, kế hoạch và nguồn lực. Khi từng địa phương phát huy được lợi thế của mình trong mối liên hệ với thế mạnh của các địa phương khác, khả năng tổ chức những dự án lớn và sử dụng nguồn lực chung của vùng cũng có điều kiện thuận lợi hơn.
*Phát triển phù hợp hệ sinh thái
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, khi đưa yêu cầu về môi trường và phát triển bền vững vào tổng thể tổ chức lãnh thổ, cần đặc biệt chú ý đến dịch vụ hệ sinh thái. Đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến cách nhìn nhận và sử dụng những giá trị mà các hệ sinh thái mang lại trong quá trình phát triển. Rừng, hồ chứa nước, vùng ven biển và nhiều khu vực tự nhiên khác không chỉ có giá trị đối với địa phương nơi tài nguyên đó tồn tại mà còn có ý nghĩa đối với các khu vực có liên quan. Vì vậy, tổ chức không gian phát triển cần tính tới những mối liên hệ này để việc khai thác các nguồn lực tự nhiên đi cùng với khả năng duy trì hệ sinh thái.
Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng; phát huy liên kết, bổ trợ và lan tỏa giữa các vùng, vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi đô thị và các trung tâm kinh tế; khai thác hiệu quả các không gian phát triển mới trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh cho rằng, khi tổ chức không gian phát triển, khả năng chịu tải của môi trường đối với từng vùng, từng khu vực là vấn đề rất quan trọng. Việc này cần được xem xét trong tổng thể của từng vùng và trong mối liên hệ giữa các khu vực, thay vì chỉ giới hạn ở một địa phương riêng lẻ. Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên, tài nguyên và đặc điểm sinh thái khác nhau. Vì vậy, khi lựa chọn phương án phát triển cần xem xét những điều kiện cụ thể của từng khu vực, khả năng đáp ứng của môi trường và mối liên hệ với các khu vực xung quanh. Đối với các lưu vực sông, vùng ven biển hay những hệ sinh thái trải rộng qua nhiều địa phương, cách tiếp cận này càng có ý nghĩa bởi việc sử dụng tài nguyên tại một nơi có thể liên quan trực tiếp đến những khu vực khác.
Từ góc độ chuyên môn, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh cho rằng, vấn đề dịch vụ hệ sinh thái đã được đặt ra trong thực tế đối với rừng, hồ chứa nước và một số khu vực khác. Điều cần quan tâm là tổ chức các cơ chế này như thế nào để phù hợp hơn với yêu cầu phát triển trong điều kiện mới, qua đó vừa khai thác được những giá trị mà hệ sinh thái mang lại, vừa bảo đảm lợi ích của các chủ thể tham gia bảo vệ và sử dụng tài nguyên.
Trong quá trình này, tri thức bản địa và sức mạnh của cộng đồng cần được chú ý nhiều hơn. Người dân gắn bó trực tiếp với rừng, nguồn nước, vùng ven biển và các hệ sinh thái khác có những hiểu biết được tích lũy từ thực tiễn. Việc phát huy những kinh nghiệm này cùng với sự tham gia của cộng đồng sẽ góp phần tạo thêm nguồn lực cho bảo vệ thiên nhiên và môi trường. Không chỉ có các nhà khoa học trong lĩnh vực tự nhiên, việc tổ chức không gian phát triển còn cần sự tham gia của khoa học xã hội và những lĩnh vực khoa học khác. Trong điều kiện phát triển hiện nay, vai trò của doanh nghiệp cũng cần được tính đến bởi các hoạt động sản xuất, kinh doanh vừa sử dụng các nguồn lực tự nhiên, vừa có liên quan trực tiếp đến yêu cầu bảo vệ môi trường.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, một cơ chế phù hợp cần tính tới quyền lợi của Nhà nước, các vùng, địa phương, doanh nghiệp và người dân. Khi quyền lợi và trách nhiệm của các bên được đặt trong cùng một quá trình, việc tìm ra những cơ chế thích ứng với từng khu vực sẽ thuận lợi hơn. Đặc biệt, đối với những khu vực có rừng, nguồn nước hay các hệ sinh thái quan trọng, giá trị tạo ra không chỉ phục vụ cho địa phương nơi tài nguyên đó tồn tại. Nhiều khu vực khác cùng được hưởng lợi. Vì vậy, cơ chế tổ chức cần hướng tới bảo đảm lợi ích của những cộng đồng và địa phương tham gia gìn giữ tài nguyên, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các bên có liên quan.
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh cho rằng, tổ chức lãnh thổ và liên kết vùng phải xem xét đồng thời nhiều yếu tố, trong đó khả năng chịu tải của môi trường đối với từng vùng, từng khu vực là nội dung cần được tính toán ngay từ khi lựa chọn phương án phát triển. Do đó, khả năng chịu tải của môi trường đối với từng vùng, từng khu vực cần được tính toán ngay từ khi lựa chọn phương án tổ chức không gian phát triển./.





