Trao đổi với phóng viên TTXVN, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Tâm, Chủ nhiệm Khoa Khoa học máy tính, Dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo, Học viện Bách khoa Paris đề xuất, chuyển từ “kết nối con người” sang “đồng sáng tạo khoa học-công nghệ”, hướng tới xây dựng hệ sinh thái trí tuệ Việt Nam toàn cầu và biến nguồn lực này thành năng lực khoa học-công nghệ quốc gia.
*Phóng viên: Từ góc độ một nhà khoa học Việt Nam đang làm việc trong hệ sinh thái AI hàng đầu châu Âu, ông đánh giá thế nào khi Nghị quyết 23-NQ/TW xác định người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước? Và cần làm gì để chuyển từ “kết nối chuyên gia” sang một mạng lưới khoa học-công nghệ thực chất, có khả năng giải quyết bài toán lớn quốc gia?
*Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Một điểm rất quan trọng của Nghị quyết 23-NQ/TW là nhìn nhận cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển đất nước.
Trong khoa học và công nghệ, điều này càng có ý nghĩa. Louis Pasteur từng nói: “Khoa học không có biên giới, bởi tri thức thuộc về nhân loại và là ngọn đuốc soi sáng thế giới”. Ngày nay, khoa học vận hành như một mạng lưới toàn cầu. Sức mạnh khoa học của một quốc gia không chỉ nằm ở vốn, dữ liệu hay năng lực tính toán mà ở con người có khả năng tạo ra tri thức, làm chủ công nghệ và kết nối quốc gia với những trung tâm trí tuệ hàng đầu thế giới.
Việt Nam có nhiều giáo sư, nhà khoa học, kỹ sư và doanh nhân đang làm việc tại những trung tâm khoa học-công nghệ hàng đầu thế giới. Để chuyển nguồn lực trí tuệ này thành năng lực khoa học-công nghệ quốc gia, theo tôi, cần 3 bước: Kết nối con người, thúc đẩy hợp tác, chuyển hợp tác thành năng lực.
Những mạng lưới chuyên gia theo lĩnh vực, trong đó có Mạng lưới chuyên gia AI Việt Nam toàn cầu (VGAIN), có thể giúp chuyển kết nối thành năng lực. Đó là hình thành các nhóm nghiên cứu xuyên biên giới, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, phát triển dữ liệu, mô hình, chuyển giao công nghệ và giải quyết những bài toán của Việt Nam.
Khi đó, chúng ta chuyển từ mạng lưới con người sang mạng lưới năng lực. Thay vì hỏi, Việt Nam có những chuyên gia nào ở nước ngoài, nên bắt đầu từ câu hỏi, trong 5-10 năm tới, chúng ta cần xây dựng những năng lực khoa học-công nghệ nào. Điều đó cũng mở rộng cách nhìn về thu hút nhân tài.
Bên cạnh việc tạo điều kiện để chuyên gia trở về, cần có cơ chế linh hoạt để trí thức người Việt toàn cầu tham gia thường xuyên vào khoa học-công nghệ của đất nước. Đó chính là tuần hoàn trí tuệ: Kết nối trí tuệ Việt Nam toàn cầu để cùng xây dựng năng lực trí tuệ quốc gia.
*Phóng viên: Thủ tướng Chính phủ đặt yêu cầu đẩy mạnh ngoại giao khoa học-công nghệ, kết nối với mạng lưới chuyên gia, trí thức kiều bào. Trong lĩnh vực AI, theo ông, cần cơ chế nào để chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia trực tiếp vào các chương trình khoa học-công nghệ trong nước?
*Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Theo tôi, đây là lúc cần chuyển từ kết nối con người sang đồng sáng tạo khoa học và công nghệ, tạo điều kiện để các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài trực tiếp tham gia nghiên cứu, phát triển công nghệ và đào tạo con người.
Có 3 vấn đề quan trọng. Thứ nhất là đồng lãnh đạo khoa học. Một giáo sư ở nước ngoài có thể đồng chủ nhiệm chương trình nghiên cứu, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh và cùng chịu trách nhiệm về một hướng công nghệ, qua đó hình thành những nhóm nghiên cứu Việt Nam xuyên biên giới.
Thứ hai là xây dựng hạ tầng nghiên cứu dùng chung về dữ liệu, tài nguyên tính toán, bộ chuẩn đánh giá và môi trường thử nghiệm. Với dữ liệu nhạy cảm hoặc chiến lược, cần có môi trường nghiên cứu tin cậy, cho phép chuyên gia hợp tác từ xa trong khi dữ liệu vẫn được kiểm soát và bảo vệ tại Việt Nam.
Thứ ba, tập trung nguồn lực vào một số bài toán AI lớn của đất nước, tập hợp đội ngũ phù hợp trong và ngoài nước để cùng giải quyết và đưa kết quả vào thực tiễn.
Một nguyên tắc đặc biệt quan trọng là mỗi chương trình khoa học lớn cũng phải là một chương trình phát triển con người. Sau 3 hay 5 năm, thành quả không chỉ là bài báo hay công nghệ mà còn là nghiên cứu sinh, kỹ sư, dữ liệu, nền tảng và những nhóm nghiên cứu đủ mạnh để tiếp tục phát triển. Nếu làm được như vậy, ngoại giao khoa học-công nghệ không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận tri thức thế giới mà còn chuyển hóa tri thức và mạng lưới toàn cầu thành năng lực khoa học nội sinh.
*Phóng viên: Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất những cơ chế để một giáo sư, nhà khoa học người Việt Nam đang ở nước ngoài, có thể tham gia sâu vào các chương trình khoa học-công nghệ trong nước?
*Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Theo tôi, có 4 nhóm cơ chế cần đặc biệt quan tâm. Thứ nhất là tài trợ nghiên cứu và quyền tự chủ khoa học. AI thay đổi rất nhanh, nên các chương trình chiến lược cần đủ dài để tạo ra năng lực và đủ linh hoạt để điều chỉnh hướng nghiên cứu và công nghệ. Nhà nước quản lý mục tiêu, ngân sách và trách nhiệm giải trình, đồng thời trao quyền chủ động cho người chịu trách nhiệm chuyên môn.
Thứ hai là vị trí khoa học linh hoạt và cơ chế đãi ngộ phù hợp. Các hình thức đồng bổ nhiệm, giáo sư kiêm nhiệm hay nhà khoa học thỉnh giảng dài hạn có thể giúp chuyên gia ở nước ngoài tham gia với vai trò lãnh đạo khoa học, cùng cơ chế đãi ngộ linh hoạt và cạnh tranh.
Thứ ba là cơ chế rõ ràng về sở hữu trí tuệ và dữ liệu. Cần có thỏa thuận ngay từ đầu về sở hữu trí tuệ, quyền công bố, bằng sáng chế, chuyển giao và thương mại hóa. Với dữ liệu, cần thiết kế quyền truy cập theo mức độ rủi ro để vừa thúc đẩy nghiên cứu, vừa bảo đảm quyền riêng tư, an ninh và lợi ích quốc gia.
Thứ tư là thay đổi cách đánh giá hiệu quả. Không chỉ nhìn vào số chuyên gia hay hoạt động kết nối, mà cần đánh giá các nhóm nghiên cứu xuyên biên giới, nghiên cứu sinh được đồng hướng dẫn, công nghệ, dữ liệu, bằng sáng chế và năng lực nghiên cứu mới hình thành tại Việt Nam.
*Phóng viên: Theo ông, trong thời gian tới cần xây dựng một “hệ sinh thái AI toàn cầu của người Việt” như thế nào để kết nối nguồn lực trí tuệ trong và ngoài nước? Và từ tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW, đâu là những việc có thể ưu tiên triển khai ngay?
*Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Tâm: Theo tôi, mục tiêu không chỉ là xây dựng một mạng lưới chuyên gia mà là hình thành một hệ sinh thái trí tuệ Việt Nam toàn cầu. Giá trị của hệ sinh thái này phải được đo bằng những năng lực mới mà Việt Nam xây dựng được từ các kết nối.
Với nguồn lực hiện có, Việt Nam cần tập trung vào những lĩnh vực có tiềm năng tạo đột phá và lợi thế dài hạn.
Theo tôi, có năm hướng phát triển AI mang tính chiến lược và bổ trợ lẫn nhau.
Thứ nhất, AI cho giáo dục. Giáo dục và AI có mối quan hệ hai chiều. Giáo dục giúp con người làm chủ AI. Nếu sử dụng đúng, AI có thể giúp phát triển con người tốt hơn. AI cho giáo dục STEM cần được ưu tiên, bởi STEM là nền tảng quan trọng của năng lực khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia. AI mở ra khả năng cá nhân hóa việc học ở quy mô chưa từng có.
Tuy nhiên, nguyên tắc quan trọng là phát triển trí tuệ con người trước, sau đó sử dụng AI để khuếch đại năng lực trí tuệ, không thay thế quá trình hình thành trí tuệ. Vì vậy, nền tảng vẫn phải là học cách học, học đi đôi với hành, hình thành thói quen tốt, hệ giá trị và tư duy phản biện.
Đích đến không phải để AI suy nghĩ thay con người, mà là tạo ra một thế hệ có trí tuệ tự nhiên mạnh, hiểu, làm chủ và biết sử dụng AI để phát triển năng lực của chính mình, nhất là đối với học sinh ở bậc phổ thông.
Thứ hai, AI cho văn hóa. Trong tương lai, AI sẽ trở thành một trong những cánh cửa chính để con người tiếp cận tri thức. Vì vậy, tiếng Việt, lịch sử, văn hóa, tư tưởng và hệ giá trị Việt Nam... cần có vị trí trong không gian trí tuệ toàn cầu.
AI cho văn hóa không chỉ là số hóa di sản. Việt Nam có một kho tàng trí tuệ được tích lũy qua hàng nghìn năm. Điều cần gìn giữ không chỉ là những giá trị cha ông để lại, mà còn là những tư tưởng, tri thức được hun đúc qua các thế hệ. Tri thức, tư tưởng và hệ giá trị đó cần được nghiên cứu, số hóa, kết nối và truyền lại một cách khoa học. AI có thể giúp tiếp nối dòng chảy trí tuệ và bản sắc Việt Nam giữa các thế hệ, đồng thời tạo hạ tầng dữ liệu để các hệ thống AI tương lai hiểu Việt Nam sâu hơn.
Thứ ba, AI chủ quyền. AI chủ quyền không có nghĩa Việt Nam phải tự phát triển tất cả công nghệ trong chuỗi giá trị AI. Điều quan trọng là xác định những năng lực chiến lược cần làm chủ và mức độ tự chủ cần thiết đối với từng năng lực. Với dữ liệu chiến lược, các hệ thống thiết yếu và những lĩnh vực liên quan đến lợi ích quốc gia, Việt Nam cần duy trì khả năng kiểm soát dữ liệu, hệ thống và đặc biệt là quyền ra quyết định. Tự chủ có chọn lọc không chỉ góp phần bảo đảm an ninh, mà còn phát triển công nghệ, doanh nghiệp và sở hữu trí tuệ trong nước, từng bước đưa Việt Nam lên những khâu có giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị AI.
Thứ tư là "mindful AI". Một quốc gia muốn có vị trí trong khoa học không thể chỉ sử dụng công nghệ do thế giới tạo ra mà cần có những câu hỏi khoa học của riêng mình. Một câu hỏi tôi đặc biệt quan tâm là, ngoài con đường xây dựng các mô hình ngày càng lớn hơn, liệu chúng ta có thể tạo ra những thế hệ AI mới bằng cách hiểu sâu hơn trí tuệ tự nhiên hay không.
Đây là nơi AI gặp khoa học thần kinh, khoa học nhận thức, tâm lý học và triết học tâm trí: Dùng AI để hiểu não bộ và trí tuệ con người; đồng thời dùng hiểu biết về não bộ và nhận thức để tìm kiếm những nguyên lý mới cho AI. Những quan sát từ trí tuệ phương Đông về chú tâm, tự quan sát hay cân bằng nội tại cũng có thể trở thành giả thuyết nghiên cứu, nhưng phải được kiểm chứng bằng thực nghiệm, dữ liệu và phương pháp khoa học hiện đại.
Thứ năm, con người là trung tâm, với nền tảng khoa học nhận thức. Khoa học nhận thức có thể trở thành một trong những nền tảng giáo dục của kỷ nguyên trí tuệ, giúp con người hiểu, làm chủ và phát triển chính mình trong kỷ nguyên AI. Đây không nhất thiết phải là một môn học riêng mà có thể là nền tảng xuyên suốt giáo dục, giúp người học biết cách chú ý, ghi nhớ, tư duy và đưa ra quyết định. Mục tiêu là giúp con người làm chủ AI, sử dụng AI để khuếch đại trí tuệ, thay vì lệ thuộc hoặc bị AI chi phối.
Năm trụ cột này tạo thành một chỉnh thể, cùng hướng tới nền kinh tế dựa ngày càng nhiều hơn vào con người, năng suất, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức, qua đó giúp Việt Nam từng bước chuyển từ sử dụng công nghệ sang làm chủ và tạo ra công nghệ.
Từ tinh thần Nghị quyết 23-NQ/TW, theo tôi có thể ưu tiên 3 việc. Thứ nhất, lựa chọn một số bài toán AI lớn của Việt Nam và xây dựng các nhóm nghiên cứu xuyên biên giới để giải quyết.
Thứ hai, kết nối các nhà khoa học người Việt trên thế giới với sinh viên và nghiên cứu viên trẻ trong nước thông qua cố vấn, thực tập, đồng hướng dẫn và hợp tác nghiên cứu.
Thứ ba, xây dựng hạ tầng khoa học dùng chung và có tính tích lũy - từ dữ liệu, tài nguyên tính toán, bộ chuẩn đánh giá đến công cụ và môi trường nghiên cứu... để thế hệ sau tiếp tục phát triển trên thành quả của thế hệ trước.
Nếu thực hiện bền bỉ, chúng ta có thể từng bước biến trí tuệ Việt Nam trên toàn thế giới thành một phần của năng lực trí tuệ quốc gia.
*Phóng viên: Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Văn Tâm./.




