Theo nhà phân tích đối ngoại, an ninh và chiến lược thuộc Đại học Malaya, ông Collins Chong Yew Keat, chuyến thăm thể hiện sự hội tụ sâu sắc hơn giữa hai quốc gia châu Á đang tìm kiếm sự tự chủ chiến lược lớn hơn, khả năng phục hồi chuỗi cung ứng, an ninh năng lượng và cân bằng địa chính trị trong bối cảnh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ngày càng bất ổn. Chuyến thăm diễn ra trong khuôn khổ Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam - Nhật Bản, trong đó hai bên xác định các lĩnh vực ưu tiên mới bao gồm năng lượng, khoáng sản trọng yếu, trí tuệ nhân tạo, chất bán dẫn, không gian, khả năng chống chịu biến đổi khí hậu, an ninh hàng hải và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tác động của hợp tác này rất đáng kể ở 4 lĩnh vực sau:
Thứ nhất, tăng cường khả năng phục hồi chuỗi cung ứng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Nhật Bản và Việt Nam đều đang tìm cách giảm thiểu sự phụ thuộc vào các chuỗi cung ứng tập trung, đặc biệt trong các lĩnh vực liên quan chất bán dẫn, khoáng sản, cơ sở hạ tầng số và năng lượng. Sự hợp tác này có thể giúp Việt Nam trở thành mắt xích mạnh hơn, đồng thời mang lại cho Nhật Bản khả năng tiếp cận an toàn hơn với các nguyên liệu đầu vào công nghiệp và cơ sở sản xuất.
Thứ hai, tăng cường an ninh năng lượng và lương thực khu vực. Sự hỗ trợ của Nhật Bản đối với việc thu mua dầu thô của Việt Nam, khả năng phục hồi của nhà máy lọc dầu, thích ứng với biến đổi khí hậu và dự án lúa gạo phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy quan hệ đối tác đang vượt ra ngoài thương mại truyền thống, giải quyết cơ sở hạ tầng cứng của khả năng phục hồi quốc gia, bao gồm năng lượng, nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, thủy lợi, khả năng chống chịu thiên tai và phát triển nông thôn.
Thứ ba, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản qua chuyến thăm này bổ sung sự ổn định vào cán cân quyền lực khu vực. Việc cùng nhấn mạnh giải quyết tranh chấp hòa bình ở Biển Đông, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), là đặc biệt quan trọng. Điều này thể hiện sự ủng hộ của hai nước đối với luật pháp quốc tế.
Thứ tư, làm sâu sắc thêm nền tảng nguồn nhân lực cho hợp tác lâu dài. Học bổng của Nhật Bản, các dự án nghiên cứu chung, chương trình NEXUS, Chương trình trao đổi khoa học Sakura, hợp tác lao động, du lịch và giao lưu địa phương là những yếu tố chiến lược. Nhật Bản cần lao động trẻ và nhân tài quốc tế trong khi Việt Nam cần đào tạo nâng cao, chuyển giao công nghệ và cơ hội việc làm chất lượng cao hơn. Hai bên cũng nhất trí hợp tác chặt chẽ trong dự án Đại học Việt Nam - Nhật Bản.
Nhìn chung, chuyến thăm của Thủ tướng Nhật Bản tại Việt Nam là sự nâng cấp chiến lược trên thực tế. Nhật Bản muốn Việt Nam trở thành đối tác vững mạnh trong tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Việt Nam muốn Nhật Bản là đối tác tin cậy trong nâng cấp công nghiệp, an ninh năng lượng, chuyển giao công nghệ và cân bằng địa chính trị. Chuyên gia Collins Chong Yew Keat đánh giá ý nghĩa thực sự của hợp tác Việt Nam - Nhật Bản trong chuyến thăm này chính là cách thức kết hợp phát triển, công nghệ, năng lượng, an ninh hàng hải và tự chủ chiến lược thành quan hệ đối tác toàn diện.
Theo nhà kinh tế trưởng toàn cầu Shan Saeed của tập đoàn công nghệ bất động sản IQI Global chi nhánh Malaysia, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản qua chuyến thăm của Thủ tướng Sanae Takaichi đã củng cố hợp tác chiến lược đầy thuyết phục, bao gồm an ninh năng lượng, khoáng sản trọng yếu và chủ quyền chuỗi cung ứng. Đây là hợp tác chiến lược trong kỷ nguyên toàn cầu hóa bị chia rẽ và chủ nghĩa dân tộc tài nguyên.
Theo giới chuyên gia, chiến lược hợp tác dài hạn của Nhật Bản đối với Việt Nam là cấu trúc ba lớp. Lớp thứ nhất hay động cơ cốt lõi chính là triển khai vốn chiến lược. Về bản chất, đây là chiến lược công nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản, gồm các hoạt động bảo đảm nguồn tài nguyên thượng nguồn (đất hiếm, nikel, nguyên liệu năng lượng), xây dựng vị thế chủ động trong khâu chế biến trung nguồn (lọc dầu, kỹ thuật vật liệu) và kết nối với hệ sinh thái sản xuất hạ nguồn (xe điện, chất bán dẫn). Bộ Thương mại, đầu tư và công nghiệp (METI) và các tập đoàn Nhật Bản sẽ thực hiện các hoạt động này. Lớp thứ hai là nền tảng thực hiện hợp tác Việt Nam - Nhật Bản. Việt Nam tham gia không chỉ với tư cách đối tác mà còn là nền tảng chiến lược. Lớp thứ ba hay bối cảnh vĩ mô đó là xu hướng cấu trúc toàn cầu.
Chuyến thăm của Thủ tướng Sanae Takaichi đến Việt Nam đang góp phần định vị vai trò của châu Á trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong đó, ASEAN đang chuyển đổi từ cơ sở sản xuất thành điểm kiểm soát chiến lược. Việt Nam nhanh chóng vươn lên trở thành mắt xích cấp 1 trong các hệ sinh thái năng lượng, khoáng sản và công nghệ. Nhật Bản đang định vị là nhà đầu tư trụ cột của châu Á - phân bổ vốn vào các tài sản công nghiệp chu kỳ dài hạn. Tín hiệu cho thị trường qua chuyến thăm này đó là nguồn vốn toàn cầu đang chuyển hướng sang các nền kinh tế giàu tài nguyên và có chính sách đáng tin cậy.
Chuyên gia Shan Saeed kết luận trong bối cảnh năng lượng được xem là chiến lược chủ quyền, khoáng sản quan trọng trở thành tài sản địa chính trị, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản không chỉ phản ứng với tương lai mà đang định giá, cấu trúc và điều khiển dòng vốn đầu tư./.






