Linh hồn của núi rừng
Về với thôn Làng Teng, xã Ba Động, tỉnh Quảng Ngãi những ngày đầu Xuân Bính Ngọ 2026, không khí rộn ràng, tôn nghiêm. Trong nếp nhà sàn truyền thống, các bộ chiêng quý được mang xuống sau một năm gác trên gác bếp. Những nghệ nhân, già làng cẩn trọng lau chùi mặt chiêng, đánh thức “vị thần nhạc cụ” sau giấc ngủ dài.
Với người Hrê, bộ chiêng ba (gồm chiếc lớn là chinh Vông, chiếc vừa là chinh Tum và chiếc nhỏ nhất là chinh Túc) là báu vật linh thiêng nhất. Mỗi chiếc chiêng đảm nhận một sứ mệnh riêng: Chinh Tum giữ nhịp, chinh Vông và chinh Túc dẫn dắt giai điệu.
Để tiếng chiêng đạt đến độ "chín", người nghệ nhân phải dùng nắm tay trần đánh vào lòng chiêng Vông và Tum. Riêng chiếc chinh Túc – linh hồn của dàn nhạc – được đánh bằng nắm tay quấn khăn để tạo ra âm thanh ấm, vang nhưng không chát. Người giỏi nhất bản luôn được chọn để cầm chinh Túc, bởi đó là người “nhóm lửa” và dẫn dắt cả dàn chiêng đi đúng nhịp điệu da diết.
“Mỗi chiếc chiêng đều có hồn vía riêng. Muốn điều khiển được nó thì phải hiểu nó, coi nó như người bạn của mình, như vậy khi đánh chiêng, hồn mình, hồn chiêng sẽ hòa vào nhau, đẩy lên những âm thanh da diết, vang vọng núi rừng”, Nghệ nhân ưu tú Phạm Văn Sây, xã Ba Động chia sẻ.
Anh Phạm Văn Lam, trưởng thôn Làng Teng tiếp lời đầy tự hào: Với người Hrê, ngày Tết mà thiếu tiếng chiêng thì cái bụng không vui, hạt lúa trên nương cũng không muốn nảy mầm. Tiếng chiêng chính là lời thưa gửi của con cháu đến tổ tiên, ông bà về một năm đã qua.
Mạch ngầm văn hóa chảy mãi
Khi mặt trời đứng bóng, cả thôn tập trung về khu vực Nhà sinh hoạt cộng đồng. Trong sắc màu rực rỡ của những bộ thổ cẩm mới, các thiếu nữ Hrê uyển chuyển trong điệu múa Ka – choi, đôi tay khéo léo đan cài theo nhịp chiêng dồn dập. Cái hay của chiêng ba không chỉ nằm ở kỹ thuật diễn tấu mà còn ở tính gắn kết cộng đồng. Không phân biệt già trẻ, trai gái, tất cả cùng hòa vào vũ điệu đoàn kết.
Nghệ nhân ưu tú Phạm Văn Sây, xã Ba Động, tỉnh Quảng Ngãi lau, chỉnh lại chiêng. Ảnh: Đinh Hương - TTXVN
Đặc biệt, tiếng chiêng hôm nay không còn là “độc quyền” của các bậc cao niên. Tại các lễ hội Xuân, những nam thanh nữ tú đã bắt đầu lĩnh xướng dàn nhạc một cách thành thục. Những lớp truyền dạy ngay tại bản làng đã giúp mạch ngầm văn hóa này chảy mãi không ngừng.
Để di sản không bị mai một trong cuộc sống hiện đại, chính quyền các địa phương đã có những bước đi cụ thể. Anh Phạm Văn Vũ, một người trẻ ở thôn Làng Teng, hào hứng: “Lúc đầu mới học em thấy khó và đau tay lắm, vì phải dùng tay trần đánh vào đồng cứng. Nhưng tập nhiều thành quen, giờ đây cái 'nghiện' tiếng chiêng đã ngấm vào máu. Cứ nghe tiếng chiêng vang lên là chân muốn nhảy, tay muốn gõ ngay lập tức”.
Ông Nguyễn Xuân Viên, Phó Chủ tịch UBND xã Ba Động, trăn trở về việc “khơi dậy sức sống” cho di sản: “Chúng tôi xác định văn hóa là gốc rễ của sự phát triển. Địa phương đã nỗ lực mở các lớp truyền dạy ngay tại nhà sàn, mời những nghệ nhân gạo cội trực tiếp cầm tay chỉ việc cho lớp trẻ. Chúng tôi không chỉ dạy kỹ thuật đánh chiêng, mà quan trọng hơn là truyền đi ngọn lửa đam mê, giúp thế hệ trẻ hiểu và trân trọng vốn quý của cha ông. Việc tổ chức các hoạt động văn hóa, diễn xướng chiêng thường xuyên chính là cách bảo tồn sống động nhất, biến nghệ thuật này thành một phần hơi thở trong đời sống hiện đại”.
Ông Thành Minh Thuận, Chủ tịch UBND xã Ba Vì thông tin, địa phương đang rà soát, đầu tư mua sắm nhạc cụ và thành lập các đội chiêng để vừa học, vừa biểu diễn phục vụ cộng đồng gắn với phát triển du lịch văn hóa.
Dưới góc nhìn quản lý, bà Phạm Thị Trung, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đánh giá rất cao sự chủ động của các cấp cơ sở. Bà nhấn mạnh: Việc bảo tồn nghệ thuật trình diễn chiêng ba không nên chỉ dừng lại ở các buổi biểu diễn phong trào. Sở đặc biệt khuyến khích các địa phương gắn kết di sản với nguồn lực Nhà nước và xã hội hóa, biến văn hóa thành động lực phát triển kinh tế thông qua du lịch cộng đồng. Khi tiếng chiêng không chỉ vang lên trong lễ hội mà còn trở thành 'đặc sản' thu hút du khách, bà con sẽ có thêm niềm tin và sự tự hào để giữ gìn báu vật của mình. Đó chính là cách bảo tồn sống động và bền vững nhất mà Quảng Ngãi đang hướng tới.
Chia tay vùng cao Quảng Ngãi khi chén rượu tiễn xuân còn cay nồng trên môi, âm vang của tiếng chiêng vẫn như còn níu giữ bước chân người đi. Giữa xu thế hội nhập, thanh âm trầm hùng ấy chính là lời khẳng định mạnh mẽ về bản sắc, là “mã gen” văn hóa độc đáo mà người Hrê vẫn đang nâng niu, gìn giữ như báu vật của đại ngàn. Tiếng chiêng vẫn thức, cũng như khát vọng về một đời sống ấm no của người dân nơi đây không bao giờ tắt./.







