Tin tức

Việt Nam có nhiều cơ hội kết nối sâu hơn với BRICS

Phóng viên TTXVN tại New Delhi đã có cuộc trao đổi với Tham tán Thương mại Việt Nam tại Ấn Độ Bùi Trung Thướng về những dư địa hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và khoa học – công nghệ giữa Việt Nam các nước thành viên BRICS.
  Tham tán Thương mại Việt Nam tại Ấn Độ Bùi Trung Thướng trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN tại New Delhi. Ảnh: Vũ Hà-PV TTXVN tại Ấn Độ  

Năm nay ghi dấu một loạt hoạt động đối ngoại cấp cao liên tiếp của Việt Nam với các nền kinh tế lớn trong Nhóm các nền kinh tế mới nổi (BRICS), bao gồm chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc (tháng 4/2026), tới Ấn Độ (tháng 5/2026) và tới Liên bang Nga (tháng 9/2026); và trong hai ngày 12 – 13/9, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18 và làm việc song phương tại Ấn Độ theo lời mời của Thủ tướng Cộng hoà Ấn Độ Narendra Modi.

Nhân dịp này, phóng viên TTXVN tại New Delhi đã có cuộc trao đổi với Tham tán Thương mại Việt Nam tại Ấn Độ Bùi Trung Thướng về những dư địa hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và khoa học – công nghệ giữa Việt Nam các nước thành viên BRICS, đặc biệt là với 3 thị trường lớn trong khối là Trung Quốc, Nga và Ấn Độ.

Theo Tham tán Bùi Trung Thướng, BRICS đang mở ra một “cửa sổ cơ hội” khá đặc biệt cho Việt Nam khi Ấn Độ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch BRICS 2026 và hai nước đã nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường. BRICS hiện chiếm khoảng 40% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu tính theo sức mua tương đương và khoảng 1/4 thương mại quốc tế. Theo số liệu của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), thương mại hàng hóa nội khối BRICS đã tăng hơn 13 lần kể từ năm 2003 và đạt khoảng 1.170 tỷ USD vào năm 2024.

Điều đáng chú ý, BRICS không chỉ có quy mô kinh tế lớn, mà còn có tính bổ trợ giữa các nền kinh tế thành viên khi Trung Quốc và Ấn Độ là các trung tâm sản xuất, tiêu dùng và công nghệ; Nga cùng các nước Vùng Vịnh mạnh về năng lượng; Brazil có lợi thế nông sản; trong khi Indonesia, Nam Phi, Iran, Ethiopia và Ai Cập bổ sung thêm nguồn tài nguyên, thị trường và vị trí logistics.

Với Việt Nam, việc trở thành nước đối tác của BRICS sẽ mang lại những điều kiện tiếp cận sâu hơn vào các mạng lưới chính sách, doanh nghiệp và chuyên gia của BRICS, thay vì chỉ nhìn nhận đây như một diễn đàn ngoại giao thuần túy. Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng, trong số các nước thành viên BRICS, Ấn Độ có vai trò quan trọng trong việc kết nối Việt Nam với khối nhờ đang có những lợi thế hiếm có. Ấn Độ vừa là thành viên sáng lập BRICS, vừa có tiếng nói quan trọng trong nhóm các nước phương Nam toàn cầu. Vì thế, thay vì tiếp cận BRICS như một thị trường thống nhất, Việt Nam có thể đi theo mô hình “hub-and-spoke” (trục và nan hoa). Trong đó, Ấn Độ đóng vai trò trung tâm kết nối; các nước khác trong BRICS là những thị trường và mắt xích chuyên môn hóa; còn Việt Nam cung cấp hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và năng lực logistics của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Một trong những lý do để Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ tin tưởng vào sự kết nối của quốc gia Nam Á này là vì định hướng phát triển của Ấn Độ cũng như chủ đề của năm Chủ tịch BRICS 2026 khá gần với nhu cầu phát triển hiện nay của Việt Nam, đặc biệt là các nội dung về chuỗi cung ứng, các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME), tài chính bền vững và đổi mới sáng tạo. Ấn Độ đã lựa chọn chủ để “Xây dựng các nền tảng tự cường, đổi mới sáng tạo, hợp tác và phát triển bền vững” cho năm Chủ tịch BRICS 2026.

Ngoài Ấn Độ, Trung Quốc cũng là một trụ cột của BRICS và là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Số liệu của Cục Hải quan cho thấy, trong 6 tháng đầu năm nay, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt khoảng 153 tỷ USD, một quy mô rất lớn so với các thị trường khác của Việt Nam. Về cơ cấu các mặt hàng, Việt Nam nhập khẩu nhiều nguyên liệu, linh phụ kiện, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất và xuất khẩu, tức là gắn với vị trí của Việt Nam trong chuỗi cung ứng khu vực. Tuy nhiên, ở góc độ khác, Việt Nam cũng cần đặt ra yêu cầu về đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu đầu vào, đồng thời đẩy mạnh xuất khẩu các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao hơn sang thị trường Trung Quốc.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Trung Quốc hồi tháng 4/2026, lãnh đạo hai nước đã thống nhất nhiều định hướng lớn nhằm kết nối hai nền kinh tế, trong đó có việc thúc đẩy các biện pháp cụ thể để phát triển thương mại, đầu tư; nghiên cứu và sớm khởi công các công trình đường sắt kết nối; đồng thời tạo thuận lợi thông quan cho hàng hóa xuất khẩu từ cả hai chiều. Theo Tham tán Bùi Trung Thướng, nếu các dự án hạ tầng kết nối đường sắt, đường bộ cao tốc và cửa khẩu thông minh được triển khai đúng tiến độ, đây sẽ là yếu tố quan trọng giúp giảm chi phí logistics, từ đó hỗ trợ cải thiện cán cân thương mại về trung và dài hạn. Trung Quốc được xác định là một mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị đa trung tâm của BRICS.

Bên cạnh đó, trong số các thành viên lớn của BRICS mà Việt Nam có quan hệ rất tốt, không thể không kể đến Nga, một trụ cột năng lượng của khối và là nước vừa đón chuyến thăm cấp Nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vào đầu tháng 9 này. Theo đánh giá của Tham tán Bùi Trung Thướng, so với Trung Quốc hay Ấn Độ, quy mô thương mại Việt Nam – Nga còn khá khiêm tốn nhưng hai nước đang dần lấy lại đà tăng trưởng tích cực. Số liệu của Hải quan Việt Nam cho thấy, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 đạt khoảng 4,77 tỷ USD, tăng 4% so với năm trước đó. Trong 7 tháng đầu năm nay, dòng chảy thương mại song phương đạt khoảng 3,24 tỷ USD, tương đương 68% kết quả của cả năm ngoái, cho thấy đà phục hồi rõ nét.

Trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến Nga vừa qua, hai nước tiếp tục củng cố quan hệ trên nền tảng Đối tác Chiến lược Toàn diện, từ đó mở thêm dư địa hợp tác, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, khoa học - công nghệ, giáo dục và công nghiệp. Bộ Công Thương Việt Nam đã đề nghị Liên minh Kinh tế Á – Âu, mà Nga là thành viên chủ chốt, xem xét gỡ bỏ biện pháp phòng vệ ngưỡng đối với hàng dệt may Việt Nam, đồng thời mở cửa hơn nữa cho thủy sản Việt Nam. Nếu các nút thắt về thanh toán xuyên biên giới và logistics được tháo gỡ, dư địa tăng trưởng cho thương mại song phương trong trung hạn là khá lớn. Ngoài ra, Nga cũng đang đặt mục tiêu nâng thương mại với Ấn Độ lên 100 tỷ USD và đầu tư hai chiều lên 50 tỷ USD vào năm 2030, dấu hiệu cho thấy nước này đang chủ động mở rộng kết nối kinh tế với cả khu vực Nam Á và Đông Nam Á.

Với các nền tảng quan hệ song phương trên với 3 thành viên lớn trong BRICS, Việt Nam có thể khai thác không gian hợp tác với khối này theo 4 trụ cột tiếp cận trung tâm.

Thứ nhất là mở rộng thương mại và tiếp cận thị trường, tập trung vào các nhóm hàng Việt Nam có lợi thế như nông sản - thực phẩm, thủy sản, cà phê, điện tử, dệt may, da giày...;  đồng thời khai thác nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu, hóa chất, dược phẩm, máy móc và năng lượng từ BRICS.

Thứ hai là thu hút và kết nối đầu tư theo cả 2 chiều. Việt Nam cần thu hút vốn từ các tập đoàn BRICS đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ, dược phẩm, năng lượng, chế biến thực phẩm; song song với việc hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra các thị trường BRICS theo mô hình liên doanh, văn phòng thương mại hay trung tâm phân phối.

Thứ ba là việc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và logistics toàn cầu bằng cách tận dụng vị thế của Việt Nam như một trung tâm sản xuất tích hợp trong chuỗi Trung Quốc – Ấn Độ – ASEAN, cũng như hướng tới việc hình thành các tuyến kết nối Việt Nam – Ấn Độ – Trung Đông – châu Phi và Việt Nam – Ấn Độ – Nga/lục địa Á-Âu.

Thứ tư là thúc đẩy hợp tác khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây sẽ là không gian hợp tác có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao nhất. Việt Nam có thể học hỏi từ mạng lưới vườn ươm khởi nghiệp và Quỹ đổi mới sáng tạo của BRICS, cùng với các lĩnh vực như AI, công nghệ tài chính (fintech), hạ tầng số và công nghệ xanh.

Nhìn tổng thể bức tranh hợp tác của Việt Nam với các nước BRICS, Tham tán Bùi Trung Thướng cho rằng Ấn Độ có thể là đối tác đầu mối về đào tạo nhân lực, khởi nghiệp và ứng dụng số; Trung Quốc mạnh về sản xuất và công nghệ công nghiệp; Nga về năng lượng và khoa học cơ bản; các nước Vùng Vịnh về vốn và năng lượng. Điều quan trọng là, cách tiếp cận không nên dừng ở việc chỉ ký các bản ghi nhớ, mà cần xây dựng những dự án cụ thể như phòng thí nghiệm chung, chương trình đào tạo kỹ sư, quỹ đồng đầu tư, hay các dự án ứng dụng AI trong nông nghiệp, logistics và thương mại để đưa những cam kết thành kết quả cụ thể và thực chất./.

Báo ảnh Việt Nam/TTXVN


Top