Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã đánh chiếm được 65 huyện, thành, khi đó là toàn bộ lãnh thổ nước Việt. Thái thú Tô Định phải bỏ chạy về nước, chấm dứt ách đô hộ hà khắc của nhà Đông Hán. Đất nước được giải phóng, bà Trưng Trắc được tướng sĩ và nhân dân suy tôn lên ngôi vua, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, định đô ở Mê Linh.
Lên ngôi được 3 năm, vào năm 43 sau Công nguyên, quân giặc lại tràn sang đất nước ta một lần nữa, Hai Bà Trưng tiếp tục lãnh đạo nghĩa quân và nhân dân chống giặc. Ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão, tương truyền, sau khi quyết chiến với kẻ thù, quyết không để sa vào tay giặc, Hai Bà đã gieo mình xuống sông Hát tuẫn tiết. Khí phách của Hai Bà kết thành tượng đá, theo dòng nước trôi xuôi đến bãi Đồng Nhân.
Dân làng Đồng Nhân khi xưa đã lấy vải đỏ làm lễ rước tượng vào bờ. Năm 1142, vua Lý Anh Tông truyền lập đền thờ Hai Bà Trưng ngay tại bờ sông. Đến năm 1819 do bến sông sạt lở, đền thờ Hai Bà Trưng được chuyển đến thôn Hương Viên (nay là quần thể di tích quốc gia đặc biệt đền - chùa - đình Hai Bà Trưng). Tuy nhiên, tại bến sông nơi phát hiện tượng của Hai Bà, một số người dân vẫn tiếp tục sinh sống và xây dựng lại ngôi miếu thờ tưởng nhớ Hai Bà – là miếu Hai Bà Trưng tại số 680 Bạch Đằng (phường Hồng Hà hiện nay). Miếu Hai Bà Trưng tuy nhỏ nhưng cùng với đền thờ chính đã được nhân dân luôn tôn kính, thờ phụng, biết ơn đối với những người có công trong lịch sử dân tộc. Miếu Hai Bà Trưng được xếp hạng Di tích lịch sử, Kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia ngày 5/2/1994.
Đội trống hội và đội tế diễu hành trên đường Bạch Đằng đón đoàn xe rước nước. Ảnh: Kim Anh - TTXVN
Phó Chủ tịch UBND phường Hồng Hà nhấn mạnh, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hình ảnh và công lao to lớn của Hai Bà Trưng vẫn luôn được nhân dân ta tưởng nhớ và khắc ghi. Việc tổ chức lễ cấp thủy và lễ dâng hương là dịp để người dân bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và hướng về cội nguồn dân tộc, chung tay gìn giữ, phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp của quê hương, đất nước./.