Tin tức

Thực hiện Nghị quyết 71: Kiến tạo không gian tự chủ toàn diện cho giáo dục đại học

Thời gian qua, chính sách tự chủ giáo dục đại học đã từng bước mở rộng theo hướng toàn diện, đi đôi với trách nhiệm giải trình, qua đó tạo chuyển biến tích cực trong nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng đào tạo nhân lực. Trên cơ sở đó, tinh thần đổi mới mạnh mẽ của Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71) tiếp tục tạo sức bật để giáo dục đại học chuyển mình trong giai đoạn mới; trong đó, kiến tạo không gian tự chủ toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học được nhấn mạnh là giải pháp quan trọng nhằm thúc đẩy đổi mới quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu, phát triển đội ngũ và tăng năng lực cạnh tranh.

Linh hoạt và hiệu quả

Năm 2022, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chính thức vận hành theo cơ chế đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên. Nhà trường triển khai tự chủ toàn diện với bốn phương diện: tổ chức - nhân sự, học thuật, tài chính và trách nhiệm giải trình.

Cơ chế tự chủ được triển khai thông qua tái cấu trúc bộ máy gắn với chuyển đổi số. Cùng với giảm 40% đầu mối quản lý, nhà trường triển khai hệ thống quản trị thông minh tích hợp dữ liệu đào tạo, tài chính, nhân sự và nghiên cứu, bảo đảm các quyết định vận hành dựa trên dữ liệu minh bạch. Tác động rõ nét của quá trình đổi mới này là tốc độ ra quyết định và trách nhiệm của từng đơn vị được nâng lên. Nếu trước đây, một đề xuất mở ngành hoặc triển khai đề tài nghiên cứu phải đi qua nhiều tầng nấc, thì nay quy trình được rút ngắn, quyền hạn được phân định rõ hơn, đồng thời cơ chế giải trình được thiết lập cụ thể.

Ở góc độ học thuật, nhà trường triển khai tự chủ theo tinh thần giáo dục khai phóng, lấy người học làm trung tâm; đồng thời phát triển các chương trình liên thông - liên ngành nhằm đáp ứng nhu cầu mới trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập. Tự chủ học thuật cũng được thể hiện qua đổi mới phương pháp giảng dạy, thúc đẩy học tập trải nghiệm thông qua dự án hoặc hoạt động phục vụ cộng đồng; từng bước ứng dụng công nghệ số và AI.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng nhà trường, tự chủ không chỉ là cơ chế vận hành mà còn là điều kiện để phát huy vai trò chủ thể trong nghiên cứu, chuyển giao tri thức và phục vụ cộng đồng. Cùng với việc phát triển nhóm nghiên cứu mạnh và gia tăng công bố quốc tế, trường mở rộng hợp tác với địa phương, doanh nghiệp trong các chương trình nghiên cứu ứng dụng. Trên phương diện tài chính, trường chủ động đa dạng hóa nguồn thu, phát triển doanh nghiệp đại học và mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và dịch vụ.

Cùng xu hướng đó, cơ chế tự chủ được nhiều cơ sở giáo dục đại học triển khai theo hướng tăng tính chủ động trong huy động và sử dụng nguồn lực. Trường Đại học Tôn Đức Thắng được giao cơ chế tự chủ từ sớm, vận hành theo hướng huy động đa dạng nguồn lực để đầu tư có trọng điểm cho cơ sở vật chất, trang thiết bị và môi trường học thuật chuyên nghiệp. Trong quá trình đổi mới cơ chế hoạt động, nhà trường từng bước hoàn thiện tổ chức, quy trình quản trị và hệ thống bảo đảm chất lượng theo hướng hậu kiểm, minh bạch, dựa trên dữ liệu; sau đó thực hiện quyền tự chủ theo quy định. Đồng thời, nhà trường đổi mới quản trị, linh hoạt trong quyết định về chương trình đào tạo, nhân sự, tài chính, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo.

Còn Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, tự chủ gắn với chiến lược nâng chuẩn và tăng cường cạnh tranh. Nhà trường chủ động đầu tư để đạt các kiểm định quốc tế như ABET và AUN-QA; đồng thời rà soát chương trình, cụ thể hóa chuẩn đầu ra, chuẩn hóa đội ngũ về trình độ và năng lực nghiên cứu, nâng cấp cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn quốc tế. Hiện trường có 6 chương trình đạt chuẩn kiểm định quốc tế ABET; hơn 700 bài báo quốc tế; trên 90% sinh viên có việc làm ngay sau tốt nghiệp...

Trong khi đó, ở khía cạnh tự chủ nhân sự, các cơ sở đào tạo tiếp tục nỗ lực tăng tính linh hoạt trong tuyển dụng và thu hút chuyên gia. Thời gian qua, trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai các giải pháp trong tuyển dụng, thu hút linh hoạt và nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành. Đối với giảng viên trình độ tiến sĩ trở lên, nhà trường vận dụng cơ chế theo hướng giảm bớt thủ tục vòng đầu, chuyển sang xét tuyển - đánh giá năng lực, rút ngắn thời gian tuyển dụng nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ quy định. Đồng thời, trường bổ sung cơ chế tài chính chi thuê chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng đặc biệt theo mức lương thực tế trên thị trường.

Theo Tiến sĩ Trần Đình Lý, Phó Hiệu trưởng nhà trường, trường tiếp tục xây dựng chính sách thu hút, trọng dụng người tài, trong đó có các cơ chế hỗ trợ thu hút như tăng phụ cấp trong giai đoạn đầu làm việc, ưu tiên bồi dưỡng theo hướng chuyên gia đầu ngành; đồng thời tạo điều kiện ổn định đời sống cho gia đình chuyên gia nước ngoài khi công tác tại trường. Nhà trường cũng xây dựng quy chế phụ cấp ưu đãi nghề theo hướng áp dụng các mức phù hợp theo nhóm đối tượng và lĩnh vực giảng dạy, song song với việc nghiên cứu cơ chế trả lương theo vị trí việc làm, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ lên mức từ 50% trở lên vào năm 2030.

  Ngày 15/7/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1531/QĐ-TTg về việc “Chuyển trường Đại học Cần Thơ thành Đại học Cần Thơ”. Đây là cơ hội để đơn vị sắp xếp, đổi mới cơ cấu tổ chức bên trong và khắc phục những bất cập trong mô hình tổ chức hiện tại; tiến hành quản lý theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm với xã hội của các đơn vị trực thuộc trong các lĩnh vực hoạt động. Ảnh: Ánh Tuyết - TTXVN  

Động lực mới từ Nghị quyết 71
Theo các chuyên gia, tự chủ đại học đã có nền tảng pháp lý và được triển khai từ nhiều năm qua, nhưng đột phá từ Nghị quyết 71 sẽ tiếp tục thúc đẩy mạnh hơn việc tháo gỡ các điểm nghẽn để tự chủ đi vào thực chất, nhất là trong cơ chế tài chính, nhân sự và huy động nguồn lực xã hội. Tinh thần của Nghị quyết 71 nhấn mạnh, tự chủ không đồng nghĩa với việc Nhà nước rút đầu tư, mà chuyển sang đầu tư theo kết quả đầu ra, dựa trên chất lượng đào tạo, sản phẩm nghiên cứu, bằng sáng chế và các chương trình đã được kiểm định trong nước, quốc tế.

Để nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho giáo dục đại học, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đàm Sao Mai, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, bên cạnh việc Nhà nước đổi mới cơ chế đầu tư, phía nhà trường cần đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ, qua đó hình thành nguồn thu bền vững từ tri thức, giảm phụ thuộc vào học phí. Sự đồng hành của doanh nghiệp được xem là một trong những kênh tạo nguồn lực quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Nhiều phòng thí nghiệm của nhà trường được doanh nghiệp tài trợ như phòng LED, Robotics, Trung tâm Giải pháp HVAC... Mô hình này mang lại lợi ích kép, vừa giúp doanh nghiệp có không gian nghiên cứu, phát triển sản phẩm, trong khi nhà trường tiếp cận công nghệ hiện đại và tăng năng lực đào tạo theo nhu cầu thực tiễn.

Việc phát triển đội ngũ tiếp tục được coi là trọng tâm của tự chủ, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu trong trường đại học. Trường Đại học Sài Gòn thời gian qua đạt kết quả đáng ghi nhận khi tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng từ khoảng 25% (năm 2016) lên khoảng 50% hiện nay, nhờ cơ chế thu hút linh hoạt và chính sách đãi ngộ thiết thực. Tuy nhiên, theo nhà trường, quy trình tuyển dụng viên chức còn kéo dài và thiếu linh hoạt để cạnh tranh thu hút nhân tài; quyền tự chủ nhân sự còn hạn chế khi một số khâu vẫn phụ thuộc hoặc nằm trong khuôn khổ quản lý của cơ quan chủ quản.

Trên tinh thần Nghị quyết 71, Trường Đại học Sài Gòn đề xuất mở rộng đối tượng và trao quyền chủ động tuyển dụng; thiết lập hệ thống KPI nghiên cứu gắn với cơ chế khen thưởng định kỳ; đồng thời hoàn thiện khung pháp lý để giao quyền tự chủ tổ chức - nhân sự đầy đủ hơn, đi kèm cơ chế giám sát minh bạch nhằm bảo đảm trách nhiệm giải trình.

Theo các chuyên gia, để thực thi hiệu quả tinh thần Nghị quyết 71, nhất là về đẩy mạnh tự chủ đại học, cần điều chỉnh đồng bộ về cơ chế, chính sách quản lý. Trong đó, về tài chính cho giáo dục đại học, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm vào những cơ sở đã chuẩn hóa và chứng minh năng lực thông qua kiểm định uy tín, chất lượng đào tạo và tỷ lệ người học ra trường thành công. Khi ngân sách nhà nước được phân bổ gắn với hiệu quả đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, tự chủ sẽ có nền tảng vận hành thực chất. Đồng thời, khung chính sách về ưu đãi thuế và hợp tác công - tư cần tiếp tục hoàn thiện để các trường chủ động huy động nguồn lực xã hội minh bạch, đúng pháp luật và bền vững.

Với các cơ sở giáo dục đại học, tự chủ vừa là quyền mà cũng là trách nhiệm, vì thế việc chủ động, sáng tạo. Quyền chủ động trong tổ chức bộ máy, học thuật và tài chính đòi hỏi nhà trường phải đổi mới tư duy quản trị, bảo đảm minh bạch trong vận hành và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Niềm tin của người học, doanh nghiệp và nhà đầu tư chỉ có thể được củng cố khi các cơ sở đào tạo chứng minh được chất lượng thực chất thông qua kết quả đầu ra, năng lực nghiên cứu và mức độ đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Khi tự chủ gắn chặt với trách nhiệm giải trình và hiệu quả hoạt động, giáo dục đại học sẽ có thêm động lực để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đồng thời gia tăng năng lực cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới./.

Báo ảnh Việt Nam/TTXVN


Top