Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh công nghiệp văn hóa đang được xác định là ngành công nghiệp mũi nhọn, nhận được sự quan tâm và kỳ vọng lớn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, góp phần vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng, Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam được lựa chọn là địa điểm đầu tiên trong chuỗi hoạt động tham vấn chính sách phục vụ xây dựng dự án Luật. Đây là khu vực có nhiều hoạt động, mô hình và lực lượng tham gia phát triển công nghiệp văn hóa. Các ý kiến từ thực tiễn sẽ là cơ sở quan trọng để nghiên cứu những cơ chế, chính sách đột phá nhưng khả thi.
Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Mạnh Cường cho biết Thành phố thời gian qua có nhiều mô hình phát triển văn hóa sôi động, từng bước hình thành các hoạt động mang tính công nghiệp văn hóa. Việc tham gia xây dựng Luật là cơ hội để Thành phố phản ánh thực tiễn, đề xuất những cơ chế, chính sách phù hợp, qua đó khai thác dư địa phát triển và đưa công nghiệp văn hóa trở thành một cực tăng trưởng mới.
Theo báo cáo tại hội thảo, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam giai đoạn 2018-2025 ước đạt 4-5%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 7%. Kết quả rà soát cho thấy các luật chuyên ngành cơ bản đã hình thành hành lang pháp lý cho công tác quản lý nhà nước, nhưng các chính sách kiến tạo phát triển kinh tế còn chưa đầy đủ, dẫn tới sự đứt gãy ở một số khâu trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa.
Dự thảo Luật được xây dựng nhằm kết nối các khâu từ sáng tạo, tài sản trí tuệ, vốn, sản xuất, phân phối đến doanh thu, tái đầu tư và xuất khẩu. Ba mục tiêu cụ thể là xác định địa vị pháp lý chính thức của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế; thúc đẩy phát triển đột phá về giá trị kinh tế, tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư chiến lược và nâng tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP; đồng thời lan tỏa bản sắc, thương hiệu và sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế.
Dự thảo gồm 9 chương, được xây dựng theo chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Sáu nhóm chính sách lớn tập trung vào hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực và nhân tài; hạ tầng; thị trường; tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Tinh thần chủ đạo là chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền, tạo ra giá trị kinh tế.
Từ thực tiễn hoạt động bảo tàng, bà Huỳnh Ngọc Vân, Giám đốc Bảo tàng Áo dài đề nghị có cách tiếp cận rộng hơn đối với các thiết chế văn hóa trong phát triển công nghiệp văn hóa. Bà cho rằng bảo tàng không chỉ thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, phục vụ khách tham quan mà còn có thể phát triển các hoạt động triển lãm, tour du lịch văn hóa, sản phẩm lưu niệm, ẩm thực, biểu diễn di sản văn hóa phi vật thể và các dịch vụ liên quan.
Theo bà Huỳnh Ngọc Vân, tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, sau 3 năm thực hiện tự chủ tài chính, tổng doanh thu tăng 200%. Tại Bảo tàng Áo dài, lượng khách tăng khoảng 4.000%, nguồn thu tăng khoảng 5.000% sau khi đơn vị tổ chức lại hoạt động. Từ thực tế này, bà đề nghị khi phát triển công nghiệp văn hóa cần giữ nguyên tắc “văn hóa trước, kinh tế sau”, coi giá trị văn hóa là nền tảng, hiệu quả kinh tế là kết quả của quá trình tổ chức và khai thác phù hợp.
Bà cũng đề nghị quan tâm đến các bảo tàng ngoài công lập, tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn, dự án đầu tư; đồng thời chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và thu hút nhân tài. Theo bà, bằng cấp là cần thiết nhưng tài năng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công nghiệp văn hóa. Chính sách cũng cần tạo điều kiện để những người có tài năng nhưng chịu ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, khuyết tật hoặc hậu quả chiến tranh có cơ hội tham gia và đóng góp.
Đại diện Tập đoàn Yeah1, bà Bùi Việt Hà, Giám đốc Đối ngoại, đề xuất tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục trong đào tạo nhân lực. Doanh nghiệp kiến nghị có cơ chế khuyến khích tương tự chính sách đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ, trong đó xem xét ưu đãi thuế đối với các khoản đầu tư, tài trợ, chi phí và nguồn lực doanh nghiệp dành cho đào tạo nhân lực công nghiệp văn hóa.
Bà Bùi Việt Hà cũng đánh giá tích cực đề xuất về “Thẻ văn hóa quốc gia”, đồng thời kiến nghị nghiên cứu cơ chế tích điểm để khuyến khích người dân vừa tiêu dùng, vừa sáng tạo và quảng bá các sản phẩm văn hóa. Cùng với đó là đề xuất lượng hóa mức Nhà nước có thể tham gia đồng đầu tư với doanh nghiệp đối với các sản phẩm công nghiệp văn hóa mang bản sắc Việt Nam.
Trong lĩnh vực du lịch, ông Võ Anh Tài, Phó Tổng Giám đốc Saigontourist đề nghị xác định du lịch văn hóa là ngành có tính tích hợp, kết nối di sản, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh, lễ hội và các sản phẩm sáng tạo. Qua đó, Saigontourist kiến nghị phát triển sản phẩm theo chuỗi giá trị, từ tài nguyên văn hóa, sáng tạo, điểm đến, lưu trú, ẩm thực, lữ hành đến phân phối và tiêu dùng.
Đồng thời, cần có cơ chế đặt hàng doanh nghiệp xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa trọng điểm quốc gia và sản phẩm đặc trưng của địa phương; mở rộng hình thức hợp tác công tư; có chính sách phù hợp cho kinh tế đêm, không gian công cộng và các tổ hợp văn hóa, du lịch, giải trí. Việc liên kết vùng cũng được đề xuất nhằm hình thành các hành lang du lịch văn hóa có thương hiệu, trong đó ranh giới hành chính không trở thành giới hạn của sản phẩm.
Các ý kiến tại hội thảo cho thấy yêu cầu xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ dừng ở việc bổ sung quy định quản lý mà cần tạo cơ chế kết nối các chủ thể trong toàn bộ chuỗi giá trị. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và hỗ trợ nguồn lực; doanh nghiệp tổ chức sản xuất, phân phối và mở rộng thị trường; nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà sáng tạo là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm và giá trị văn hóa.
Việc hoàn thiện dự thảo Luật được kỳ vọng tạo hành lang pháp lý đồng bộ, khơi thông các nguồn lực xã hội, thúc đẩy phát triển thị trường và nâng cao giá trị kinh tế của các sản phẩm văn hóa. Qua đó, công nghiệp văn hóa có thêm điều kiện phát triển thành một ngành kinh tế quan trọng, đồng thời góp phần quảng bá bản sắc và nâng cao sức mạnh mềm của Việt Nam./.
Báo ảnh Việt Nam/TTXVN

