Na gối vụ ở xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn là mô hình sản xuất ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để tạo ra quả na trái vụ so với vụ chính. Bằng các kỹ thuật cắt, tỉa, thụ phấn sau khi kết thúc vụ na chính, quả na gối vụ được người dân thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 12 hằng năm. Mặc dù sản lượng thấp nhưng quả na trái vụ lại có giá bán cao trên thị trường, mang lại thu nhập ổn định cho người trồng na của địa phương.
Người dân Chi Lăng chăm sóc na gối vụ. Ảnh: Tiến Vĩnh – TTXVN
Hiện nay, na là sản phẩm chủ lực của xã Chi Lăng và xã Cai Kinh, tỉnh Lạng Sơn. Na trồng trên vùng núi đá đã gắn bó với người dân từ nhiều năm nay. Cây na sinh trưởng và phát triển phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng nơi đây nên quả na to, ngọt thịt, hàm lượng dinh dưỡng cao, tạo nên sản phẩm đặc trưng của vùng đất này.
Người dân ở đây cho biết, về kỹ thuật sản xuất na gối vụ có sự khác biệt so với na chính vụ. Để cây na ra quả trái vụ, người dân thực hiện tỉa cành, kết hợp bón phân cân đối, hợp lý để kích thích cây ra hoa, đậu quả.
Với na chính vụ, cây thường cho quả ở đầu cành, còn na gối vụ cho ra quả ở các mầm na mọc trên thân cây do được kích thích bằng phương pháp tỉa cành và tuốt lá vào những thời điểm nhất định trong năm. Sau khi hoa na được thụ phấn, na gối vụ sẽ cho thu hoạch quả sau 100 ngày.
Trong quá trình na gối vụ phát triển, người dân thực hiện bọc quả bằng ni lông nhằm hạn chế sâu bệnh, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để quả na phát triển tốt nhất. Na gối vụ thường cho quả to, vỏ mỏng, mắt đều, cùi dày, ít hạt, vị ngọt thanh và thơm đặc trưng. Khi chín, quả có màu xanh nhạt pha trắng, thịt quả mềm, hương vị đậm hơn so với na trồng ở vùng khác. Hiện nay, na gối vụ sản xuất đến đâu tiêu thụ hết đến đó, giá na cũng cao hơn so với na chính vụ.
Anh Nguyễn Văn Cường, thôn Chi Lăng, xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn chia sẻ, từ năm 2010, gia đình anh đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất để phát triển na trái vụ. Hiện nay, gia đình anh đang trồng gần 1 ha na gối vụ với gần 700 gốc na, trong đó có khoảng 500 cây đang cho thu quả. Để có quả na gối vụ chất lượng, gia đình anh sẽ lựa chọn những cây na khỏe mạnh để thực hiện tỉa tán, giúp cây na bật mầm trên thân cây. Từ những ngọn mầm bật lên từ thân cây, người dân sẽ thực hiện tỉa tán, bấm cành, bấm ngọn và thụ phấn cho hoa na.
Sản xuất na gối vụ quan trọng nhất là thời tiết và nước tưới vì thời gian này thời tiết thường ít mưa, cây na thiếu nước sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và sự phát triển của quả na. Thời điểm này, gia đình anh bắt đầu thu hoạch na gối vụ để cung ứng ra thị trường, dự kiến thu nhập từ na của gia đình anh đạt khoảng 350 triệu đồng, trong đó na gối vụ cho thu nhập khoảng 200 triệu đồng.
Chị Hoàng Thị Tâm, thôn Chi Lăng, xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn cũng trồng na gối vụ từ nhiều năm nay. Theo chị, na gối vụ phụ thuộc rất lớn vào thời tiết. Đối với sản xuất na gối vụ, người trồng phải cung cấp đủ nước tưới cho cây và dành nhiều công chăm sóc hơn so với bình thường. Na gối vụ bắt đầu thụ phấn từ cuối tháng 6, sau khi thụ phấn đến lúc thu hoạch là 100 ngày. Người dân nơi đây thường thu hoạch na gối vụ bắt đầu từ cuối tháng 9 hằng năm.
Mặc dù trồng na gối vụ vất vả hơn nhưng thu nhập lại cao hơn nhiều so với na chính vụ. Bà Nguyễn Thị Chính, xã Tam Đa, tỉnh Bắc Ninh, người đã có nhiều năm thu mua, tiêu thụ na tại Lạng Sơn, cho rằng na gối vụ được người dân phát triển cách đây khoảng 10 năm. Na gối vụ có chất lượng cao hơn na chính vụ; vào những năm thời tiết thuận lợi, quả na to, đẹp hơn, bán được giá cao trên thị trường.
Hiện nay, xã Chi Lăng có trên 1.358 ha diện tích trồng na, trong đó na gối vụ là 100 ha, năng suất bình quân đạt khoảng 10,6 tấn/ha. Giá bán tương đối ổn định, dao động từ 30.000 - 80.000 đồng/kg tùy theo kích cỡ và chất lượng quả, doanh thu ước đạt khoảng 300 - 800 triệu đồng/ha/vụ. Na gối vụ đã góp phần kéo dài thời gian thu hoạch, nâng cao giá trị sản phẩm và tăng thu nhập cho người trồng na của địa phương. Hiện, toàn xã có diện tích na VietGAP là 494 ha; GlobalGAP là 35 ha; diện tích rải vụ khoảng trên 100 ha.
Ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn cho biết, thương hiệu “Na Chi Lăng” đã vinh dự được Tổng hội Nông nghiệp Việt Nam vinh danh và trao cúp vàng chứng nhận là thương hiệu sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt, thương hiệu nổi tiếng trong tốp 10 “Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam” các năm 2017, 2018 và 2019. Để cây na tiếp tục là cây trồng chủ lực, thế mạnh của địa phương, chính quyền xã sẽ hỗ trợ người dân trong chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng vùng trồng, tăng vùng sản xuất na tập trung, đồng thời xây dựng các mô hình điểm để nâng cao giá trị của các sản phẩm na của địa phương. Từ đó, nâng cao thu nhập cho người trồng na, phát triển kinh tế địa phương.
Nghị quyết số 24/NQ-TU ngày 3/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lạng Sơn về phát triển nông, lâm nghiệp chủ lực tập trung, bền vững gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm giai đoạn 2026 - 2030 cũng chỉ rõ việc tập trung khai thác, tận dụng tốt lợi thế về điều kiện tự nhiên, xây dựng và phát triển các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp tập trung theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, phát triển sản phẩm có chất lượng, sức cạnh tranh cao và bền vững, đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng theo yêu cầu của thị trường, tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp, tăng hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong đó, phát triển vùng sản xuất hàng hóa và các loại sản phẩm chủ lực, có thế mạnh cạnh tranh, hướng tới xuất khẩu như vùng na đạt trên 4.500 ha.
Ngành nông nghiệp Lạng Sơn phấn đấu đến năm 2030, diện tích cây nông nghiệp của tỉnh áp dụng GAP, hữu cơ, mã số vùng trồng và các tiêu chuẩn khác đạt 2.000 ha, diện tích được cấp mã số rừng trồng đạt 5.000 ha, duy trì và cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững 20.000 ha. Toàn tỉnh phấn đấu có 200 sản phẩm OCOP còn hạn, trong đó có ít nhất 20 sản phẩm 4 sao và 1 sản phẩm 5 sao, nâng cao giá trị sản phẩm/đơn vị diện tích canh tác từ 10 - 15% so với năm 2025./.