Hơn hai thập niên sinh sống và làm việc tại Bỉ, Tiến sĩ công nghệ sinh học Nguyễn Ninh Thuận vẫn đau đáu với nông nghiệp Việt Nam và mong muốn trở thành cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học - công nghệ giữa hai nước, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ sinh học phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững.
Theo phóng viên TTXVN tại Brussels, hiện công tác tại Tập đoàn BASF, chi nhánh Agricultural Solutions Belgium NV, Tiến sĩ Nguyễn Ninh Thuận tham gia nghiên cứu, phát triển và kinh doanh các giải pháp nông nghiệp công nghệ cao. Nhưng với chị, hành trình khoa học bắt đầu từ những cánh đồng lúa Việt Nam.
Năm 1999, chị Ninh Thuận sang Bỉ theo học chương trình tiến sĩ ngành công nghệ sinh học tại Đại học Gent – một trong những trung tâm nghiên cứu hàng đầu châu Âu về công nghệ sinh học thực vật. Đề tài nghiên cứu của chị tập trung vào sự tương tác giữa bệnh nấm đạo ôn với cây lúa và lập bản đồ phân tử gene kháng bệnh trên các giống lúa bản địa Việt Nam. Chị nhớ lại thời điểm đó, nhờ học bổng của Quỹ Rockefeller dành cho các nhà khoa học trẻ đến từ các nước đang phát triển, chị có cơ hội làm việc tại phòng thí nghiệm di truyền của Giáo sư Marc Van Montagu, nhà khoa học nổi tiếng thế giới trong lĩnh vực công nghệ sinh học thực vật. Chia sẻ với phóng viên TTXVN tại Bỉ, chị nhấn mạnh: “Đó là cơ hội rất lớn với tôi. Tôi được tiếp cận những thiết bị hiện đại nhất thời bấy giờ để phục vụ nghiên cứu về cây lúa Việt Nam”.
Tiến sĩ Nguyễn Ninh Thuận phát biểu tại Hội thảo hợp tác khoa học – công nghệ – thương mại Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU), tại Brussels tháng 3/2026. Ảnh: Hương Giang - PV TTXVN tại Bỉ
Từ môi trường nghiên cứu tiên tiến của Bỉ, nữ tiến sĩ người Việt từng bước theo đuổi giấc mơ ứng dụng công nghệ sinh học nhằm nâng cao giá trị hạt gạo quê hương. Năm 2003, khi đang hoàn thành luận án tiến sĩ, chị được Bayer CropScience mời về làm việc trong dự án phát triển giống lúa lai bằng công nghệ sinh học. Kế hoạch sang Australia làm nghiên cứu sau tiến sĩ vì thế cũng khép lại. Chị cho biết: "Từ năm 2003 đến năm 2013, tôi gần như sống cùng giấc mơ lúa nước".
Trong suốt giai đoạn làm việc tại Bayer CropScience, chị tham gia nhiều dự án liên quan trực tiếp tới Việt Nam. Công ty khi đó đã phát triển các giống lúa lai có khả năng kháng bệnh bạc lá bằng công nghệ sinh học và được đưa vào canh tác tại Việt Nam. Không dừng lại ở đó, nhóm nghiên cứu của chị còn phát triển các giống lúa kháng đạo ôn, kháng rầy, đồng thời cải thiện hương thơm và chất lượng gạo để phù hợp hơn với nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam. Theo Tiến sĩ Nguyễn Ninh Thuận, đây chính là minh chứng rõ nét cho hiệu quả của hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, khi tri thức, công nghệ và kinh nghiệm từ châu Âu có thể được ứng dụng để giải quyết những bài toán thực tiễn của nông nghiệp Việt Nam.
Hiện nay, bên cạnh công việc tại BASF, chị còn là thành viên của Hội Trí thức Việt Nam tại Bỉ và Luxembourg (ViLab), nơi kết nối các chuyên gia, trí thức người Việt tại Bỉ với các đối tác trong nước. Ngay trong năm đầu tiên tham gia ViLab, chị đã thúc đẩy hợp tác với AI Academy Việt Nam, Đại học Phenikaa cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhằm phát triển các chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ sinh học và đổi mới sáng tạo. Theo chị Ninh Thuận, Việt Nam có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trong khi Bỉ và châu Âu sở hữu thế mạnh về nghiên cứu, công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nếu tận dụng tốt thế mạnh của mỗi bên, hợp tác Việt Nam - Bỉ có thể tạo ra nhiều giá trị mới cho ngành nông nghiệp.
Tiến sĩ Ninh Thuận cho rằng công nghệ sinh học hiện có thể tham gia vào toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp, từ tạo giống, phát triển phân bón sinh học, chế phẩm vi sinh cho tới nâng cao chất lượng và thời gian bảo quản nông sản sau thu hoạch. Chị nhận định: “Muốn nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam, đặc biệt tại thị trường châu Âu, chúng ta cần đầu tư mạnh hơn cho công nghệ sinh học và đổi mới sáng tạo”. Tuy nhiên, để thúc đẩy hợp tác hiệu quả hơn giữa các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài với các đối tác trong nước, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến sở hữu trí tuệ và cơ chế chia sẻ lợi ích từ hoạt động nghiên cứu. Bên cạnh đó, điều quan trọng là phải xây dựng được hệ sinh thái có khả năng đưa các kết quả nghiên cứu vào sản xuất thực tế.
Theo chị, Việt Nam hiện không thiếu các nhà khoa học giỏi hay công nghệ nền tảng, nhưng còn hạn chế về năng lực triển khai ở quy mô lớn và nguồn nhân lực chuyên về quản lý đổi mới sáng tạo. Chị cho rằng từ nghiên cứu đến sản phẩm thương mại là cả một quá trình dài và điều này đòi hỏi một đội ngũ vừa hiểu công nghệ, vừa có khả năng vận hành và mở rộng quy mô sản xuất. Nữ tiến sĩ cũng cho rằng Việt Nam cần đầu tư mạnh hơn vào các phòng thí nghiệm công nghệ cao có khả năng xử lý khối lượng nghiên cứu lớn, đồng thời chú trọng đào tạo thực hành cho đội ngũ kỹ thuật viên và chuyên gia trẻ.
Với chị Nguyễn Ninh Thuận, hợp tác khoa học không chỉ là chuyển giao công nghệ, mà còn là quá trình kết nối con người, chia sẻ tri thức và cùng hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Đến nay, sau hơn 20 năm gắn bó với môi trường nghiên cứu và công nghệ sinh học tại Bỉ, chị Ninh Thuận vẫn luôn hướng về Việt Nam và nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực công nghệ sinh học./.