Tuyệt đối không được tư nhân hóa về đất đai
Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, Nghị quyết số 21-NQ/TW đã khẳng định đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, không gian sinh tồn và phát triển; là yếu tố cấu thành chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia; là tư liệu sản xuất đặc biệt, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; tuyệt đối không được tư nhân hóa về đất đai và không cho phép người nước ngoài nhận chuyển nhượng, chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới mọi hình thức (trừ trường hợp là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài). Nhà nước thực hiện quyền của đại diện chủ sở hữu thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và quy định thời hạn sử dụng đất; quyết định giá đất; quyết định chính sách và thực hiện điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất không phải do người sử dụng đất tạo ra... Việc phân bổ giá trị đất đai phải bảo đảm công bằng, hiệu quả, tránh lãng phí.
Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt nhưng không phải là quyền sở hữu; quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ; Nhà nước không xem xét lại quyền sử dụng đất hợp pháp theo chính sách, pháp luật đất đai qua các thời kỳ (không hồi tố); không thừa nhận việc đòi lại đất đã được Nhà nước giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách, pháp luật về đất đai; không điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình, cá nhân.
Liên quan đến trách nhiệm của Nhà nước, Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, Nghị quyết lần này khẳng định rõ Nhà nước điều tiết, kiểm soát và quyết định giá đất; chuyển mạnh từ tư duy “bồi thường tài sản bị thu hồi” sang tư duy “tái thiết cuộc sống cho người dân khi Nhà nước thu hồi đất”, đảm bảo cải thiện nơi ở, điều kiện sống và sinh kế của người có đất vào vùng bị thu hồi. Nhà nước tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền có nơi ở, bố trí quỹ đất, có các cơ chế ưu đãi, khuyến khích phát triển nhà ở cho thuê với giá phù hợp, đáp ứng nhu cầu nơi ở của nhân dân.
Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, bền vững, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Mục tiêu cụ thể là xây dựng hệ thống thông tin quốc gia về đất đai theo yêu cầu: “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Đến hết năm 2026, hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu số đối với toàn bộ các thửa đất đã được thu thập thông tin, dữ liệu. Đến hết năm 2027, hoàn thành công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ địa chính và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đối với diện tích chưa có trong cơ sở dữ liệu. Đến năm 2030, hệ thống pháp luật về đất đai được hoàn thiện đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm đất đai được quản lý chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững, phân bổ công bằng, hợp lý, gia tăng giá trị, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Để thực hiện các mục tiêu đó, Nghị quyết đã xác định 6 nhóm nhiệm vụ giải pháp. Trong đó, tiếp tục thực hiện việc giao đất, cho thuê đất chủ yếu thông qua đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất đối với quỹ đất do Nhà nước quản lý. Bình đẳng trong tiếp cận đất đai giữa khu vực công và khu vực tư. Quy định rõ trường hợp phải đấu giá, đấu thầu; trường hợp nhà đầu tư tự thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất. Mỗi phương thức phải có điều kiện, tiêu chí, trình tự, trách nhiệm và cơ chế giám sát rõ ràng.
Nghiên cứu kỹ lưỡng cơ chế giao đất, cho thuê đất có thời hạn đối với một số loại hình sử dụng đất với lộ trình, bước đi phù hợp, thận trọng, bảo đảm đánh giá đầy đủ tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội, thị trường bất động sản, hệ thống tín dụng, quyền tài sản của người dân. Giao đất có thời hạn lâu dài đối với đất để xây dựng nhà ở thương mại để bán. Quy định thời hạn sử dụng nhà chung cư theo niên hạn xây dựng công trình, chủ sở hữu thực hiện nghĩa vụ tài chính để xây dựng mới theo quy định khi hết thời hạn.
Về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất, quy định rõ hơn phạm vi thu hồi đất trong trường hợp thật cần thiết vì mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Nhà nước thu hồi đất đối với phần diện tích còn lại của dự án khi nhà đầu tư đã thỏa thuận được phần lớn diện tích và nhận được sự đồng thuận của đại đa số người sử dụng đất trong phạm vi thực hiện dự án. Thực hiện chủ trương tách dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thành dự án độc lập để thực hiện trước. Các dự án tái định cư phải bảo đảm hạ tầng, dịch vụ, quan tâm đến sinh kế người dân.
Liên quan đến giá đất, tài chính đất đai và điều tiết địa tô chênh lệch, Phó Thủ tướng cho biết, Nghị quyết khẳng định giá đất do Nhà nước quyết định căn cứ vào mục tiêu phát triển của từng thời kỳ, bảo đảm chi phí đầu vào hợp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nhà nước ban hành bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất, tỷ lệ thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tỷ lệ bồi thường phù hợp với tình hình thực tế, theo từng loại đất bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích Nhà nước, người dân, nhà đầu tư.
Việc xác định, thẩm định, quyết định giá đất theo nguyên tắc Trung ương xây dựng tiêu chí khung, nguyên tắc, phương pháp và cơ chế kiểm tra, giám sát; địa phương quyết định giá đất. Cơ quan tài chính quản lý giá đất, xây dựng bảng giá đất, hệ số điều chỉnh giá đất.
Trung ương yêu cầu nghiên cứu xây dựng chính sách tài chính, thuế đối với quyền sử dụng đất phù hợp để sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Chính sách cần thiết kế để việc găm giữ đất nhưng không sử dụng trở nên tốn kém hơn lợi ích đầu cơ.
Về lành mạnh hóa thị trường quyền sử dụng đất và thị trường bất động sản, Nghị quyết yêu cầu công khai thông tin quy hoạch, pháp lý dự án, giá đất, giao dịch, nguồn tài chính, tình trạng tranh chấp, sử dụng đất. Đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất, từng bước bắt buộc đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất. Kết nối dữ liệu đất đai với quy hoạch, công chứng, thuế, ngân hàng. Khuyến khích giao dịch bất động sản thông qua sàn giao dịch, thanh toán qua ngân hàng, không dùng tiền mặt, phù hợp với từng loại hình cụ thể và phương thức giao dịch bất động sản.
Không tiếp tục cách làm “ô nhiễm đến đâu, xử lý đến đó”
Quán triệt Kết luận số 75-KL/TW, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc cho biết, bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, liên quan trực tiếp đến đời sống, sinh kế của nhân dân và phát triển bền vững, khẳng định năng lực tự chủ và vị thế quốc tế của Việt Nam trong những thập niên tới.
Đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013, Trung ương đã khẳng định tầm nhìn chiến lược của Nghị quyết và những kết quả quan trọng đã đạt được, đồng thời chỉ rõ những tồn tại, hạn chế. Trên cơ sở đó, Trung ương đã ban hành Kết luận số 75-KL/TW về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới.
Nghị quyết nêu 5 nhóm quan điểm.
Thứ nhất, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong tổng thể tư duy, tầm nhìn mới, là nền tảng cho chuyển đổi xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất, sức cạnh tranh, là một động lực phát triển mới của nền kinh tế.
Thứ hai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người dân. Đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp và cộng đồng.
Thứ ba, quy hoạch, định hướng phát triển trong giới hạn sinh thái, phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường. Chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động kiến tạo phát triển, từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và theo mức độ rủi ro, từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng.
Thứ tư, chủ động phòng ngừa, kiểm soát chặt chẽ, cảnh báo từ sớm, từ xa nguy cơ gây ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường; tập trung khắc phục, xử lý các vấn đề bức xúc về môi trường. Bảo tồn đa dạng sinh học và phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên. Đẩy nhanh chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn, nâng cao năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và chủ động phòng, chống thiên tai.
Thứ năm, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam chủ động, tích cực, tham gia có trách nhiệm và định hình những sáng kiến, các thỏa thuận, cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu, nâng cao vai trò, vị thế quốc gia trong giải quyết các vấn đề môi trường, khí hậu toàn cầu.
Theo Phó Thủ tướng, Trung ương đã thảo luận và xác định mục tiêu từng giai đoạn, bảo đảm thống nhất với hai mục tiêu 100 năm và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, phù hợp với mô hình phát triển Việt Nam. Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, năng lực chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, thiên tai được nâng cao, bảo vệ tốt hơn tính mạng, sức khỏe, tài sản, sinh kế của nhân dân.
Các khu vực ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được tập trung xử lý, khắc phục; chất lượng môi trường sống của nhân dân được cải thiện thực chất; suy giảm đa dạng sinh học được ngăn chặn, hướng tới cân bằng sinh thái. Các nguồn thải lớn phải được kiểm soát chặt chẽ; thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp gắn với đổi mới mô hình và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh môi trường và sự phát triển bền vững.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới có môi trường sống trong lành, hài hòa với thiên nhiên, phát triển bền vững; hệ thống quản trị môi trường hiện đại; thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu. Kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp là phương thức phát triển chủ đạo. Việt Nam là quốc gia có trách nhiệm, vị thế và uy tín cao trong bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.
Trung ương đã xác định các chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2026 – 2030, bao phủ toàn diện cả bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Các chỉ tiêu này tập trung vào những cam kết then chốt như: bảo đảm mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; kiểm soát nghiêm ngặt nguồn thải với yêu cầu quan trắc tự động 100% nguồn nước thải, khí thải lớn và xử lý nước thải đạt quy chuẩn tại tất cả các cụm công nghiệp. Lượng hóa các mục tiêu nâng cao chất lượng môi trường sống. Tỷ trọng kinh tế xanh đạt 10% GDP; tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt tối thiểu 26,1%. Cam kết giảm phát thải khí nhà kính ít nhất 9%.
“Những chỉ tiêu định lượng cụ thể này thể hiện tư duy quản trị hiện đại, là căn cứ bắt buộc để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, phân bổ nguồn lực và đánh giá thực chất kết quả thực hiện”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.
Phó Thủ tướng Thường trực cũng nêu 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội; hoàn thiện thể chế, siết chặt kỷ cương và nâng cao hiệu lực thực thi; huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực; giải quyết các vấn đề môi trường bức xúc, kiểm soát chặt nguồn ô nhiễm; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học và sử dụng hiệu quả tài nguyên; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm thiểu rủi ro thiên tai; đẩy mạnh chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và quản lý phát thải khí nhà kính; phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và nguồn nhân lực; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế.
Phó Thủ tướng cũng cho biết, Chính phủ đang khẩn trương xây dựng Chương trình hành động, kế hoạch thể chế hóa chủ trương, lồng ghép, tích hợp yêu cầu về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, huy động và bố trí nguồn lực, kiểm tra, giám sát tiến độ, chất lượng thực hiện.
“Nghị quyết về đất đai và kết luận về môi trường, biến đổi khí hậu là những quyết sách đóng vai trò trụ cột cho hai bước chuyển chiến lược quyết định tương lai của đất nước. Sự gắn kết này tạo thành chỉnh thể thống nhất”, nhấn mạnh điều này, Phó Thủ tướng nhắc đến ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cho rằng, thể chế đất đai phải được khai mở để giải phóng nguồn lực, tạo tiền đề cho năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường, phát huy vai trò là lá chắn bảo vệ tiến trình phát triển an toàn, liên tục và bền vững. Để đưa các quyết sách vào thực tiễn, toàn hệ thống chính trị phải khẩn trương đổi mới mạnh mẽ nhận thức và phương thức tổ chức thực hiện, quán triệt và thực thi nghiêm túc 5 yêu cầu trọng tâm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước./.
Báo ảnh Việt Nam/TTXVN
