Các luật này gồm: Luật Tương trợ tư pháp về dân sự; Luật Giám định tư pháp; Luật Thi hành án dân sự; Luật Dân số; Luật Phòng bệnh; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ; Luật Trí tuệ nhân tạo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Luật Công nghệ cao; Luật Chuyển đổi số; Luật Xây dựng; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn.
Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Trợ lý Chủ tịch nước Cấn Đình Tài, chủ trì Họp báo.
* Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp
Luật Tương trợ tư pháp về dân sự gồm 4 chương, 38 điều. Việc xây dựng Luật nhằm hoàn thiện pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự theo hướng hiện đại, khả thi, hỗ trợ quy trình giải quyết các vụ việc dân sự (theo nghĩa rộng, bao gồm: Dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, phá sản, thi hành án dân sự) và vụ án hành chính có yếu tố nước ngoài được nhanh chóng, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân có liên quan. Đồng thời, tăng cường khả năng thực hiện quyền tiếp cận công lý của tổ chức, cá nhân; hoàn thiện cơ sở pháp lý trong nước, tạo thuận lợi cho ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về dân sự; thúc đẩy và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp của Việt Nam.
Luật Thi hành án dân sự gồm 5 chương, 116 điều. Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về đổi mới tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự; khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan có thẩm quyền được thực thi hiệu quả; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước; tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc ban hành Luật đã kế thừa có chọn lọc các quy định còn phù hợp, đã được thực tiễn kiểm nghiệm; đồng thời sửa đổi, bổ sung quy định bất cập, hạn chế từ thực tiễn; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác thi hành án dân sự; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp; tính khả thi, thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan.
Hai luật trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.
Luật Giám định tư pháp có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 gồm 6 chương, 45 điều với các quy định để bảo đảm thể chế hóa Chỉ thị số 54-CT/TW, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thực hiện tinh thần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật; đồng thời, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giám định tư pháp.
Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; nâng cao chất lượng đội ngũ, tổ chức và hiệu quả hoạt động giám định tư pháp; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng; đồng thời kế thừa, phát triển các quy định đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám định tư pháp, phục vụ hoạt động tố tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và đấu tranh, phòng, chống tội phạm.
* Chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người dân
Luật Dân số gồm 8 chương, 30 điều. Luật chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của cả đất nước và từng địa phương...
Đáng chú ý, Luật có nhiều quy định mới so với Pháp lệnh Dân số, trong đó có các biện pháp duy trì mức sinh thay thế. Cụ thể như trường hợp sinh con thứ hai, thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ là 7 tháng, lao động nam là 10 ngày làm việc khi vợ sinh con; hỗ trợ tài chính khi sinh con đối với: phụ nữ dân tộc thiểu số rất ít người; phụ nữ ở tỉnh, thành phố có mức sinh dưới mức sinh thay thế; phụ nữ sinh đủ 2 con trước 35 tuổi. Ưu tiên mua, thuê mua hoặc thuê nhà ở xã hội theo quy định của pháp luật về nhà ở đối với người có từ 2 con đẻ trở lên..
Ngoài ra, Luật mới cũng bổ sung các quy định về giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Cụ thể, Luật cấm lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức; cấm thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi, trừ trường hợp do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định để phục vụ chẩn đoán và điều trị các bệnh liên quan đến giới tính. Luật cũng khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư.
Đồng thời, Luật quy định đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh đối với người có hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai và việc đình chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh này thực hiện theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Luật cũng bổ sung các quy định về thích ứng với già hóa dân số. Trong đó, chủ động chuẩn bị cho tuổi già như chuẩn bị về sức khỏe, tài chính, tâm lý; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tham gia học tập, nâng cao kiến thức, kỹ năng để duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần và chức năng xã hội; tham gia các hoạt động hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi…
Tương tự, Luật Phòng bệnh gồm 6 chương, 46 điều. Luật khẳng định, phòng bệnh chủ động là chính, lấy người dân làm trung tâm, chú trọng chăm sóc sức khỏe toàn diện theo vòng đời. Luật không chỉ tập trung vào bệnh truyền nhiễm mà bao quát cả bệnh không lây nhiễm, rối loạn tâm thần, dinh dưỡng trong phòng bệnh và điều kiện bảo đảm để phòng bệnh.
Bên cạnh đó, ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí chi thường xuyên, chi đầu tư cho y tế dự phòng; thành lập Quỹ phòng bệnh nhằm tạo nguồn tài chính bền vững cho hoạt động phòng bệnh. Nâng cao quyền lợi người dân như: được hưởng chính sách khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm một lần theo nhóm đối tượng và lộ trình ưu tiên; được bảo đảm công bằng trong tiếp cận vaccine, sinh phẩm; hướng dẫn thực hiện dinh dưỡng hợp lý, trong đó chú trọng dinh dưỡng 1.000 ngày đầu đời. Đồng thời ưu đãi nhân lực làm công tác phòng bệnh như: Áp dụng chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội đối với nhân viên y tế tại trạm y tế cấp xã, cơ sở y tế dự phòng; thu hút, tuyển dụng, ưu đãi, bố trí và sử dụng hợp lý nhân lực làm công tác phòng bệnh; khuyến khích cấp học bổng hoặc trợ cấp cho người học thuộc lĩnh vực phòng bệnh. Cơ sở y tế dự phòng được tự chủ quyết định mức thu nhập tăng thêm từ nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước cấp.
Luật quy định những chính sách ưu tiên đối với khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn như: Tiếp cận dịch vụ phòng bệnh; thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng bệnh; hỗ trợ thực hiện các biện pháp dinh dưỡng trong phòng bệnh cho một số đối tượng; phát triển nguồn nhân lực làm công tác phòng bệnh.
Hai luật này đều có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.
* Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ gồm 3 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2026. Việc ban hành Luật nhằm tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả, đồng bộ, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bắt kịp xu thế thế giới trong chuyển giao công nghệ. Tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tăng cường công tác thông tin, thống kê về chuyển giao công nghệ phục vụ quản lý nhà nước. Thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ nội sinh, khơi luồng công nghệ giữa các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong nước và giữa các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Đồng thời phát triển thị trường khoa học và công nghệ hoạt động hiệu quả, minh bạch và chuyên nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho các giao dịch công nghệ, tài sản trí tuệ, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Luật Trí tuệ nhân tạo gồm 8 chương, 35 điều; có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/3/2026. Việc xây dựng Luật nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý thống nhất cho phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo, bảo đảm phát triển an toàn, có trách nhiệm và vì con người; thúc đẩy trí tuệ nhân tạo trở thành hạ tầng trí tuệ quốc gia, là động lực cho tăng trưởng năng suất, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia; tạo lập môi trường pháp lý minh bạch, nhân văn và đáng tin cậy, khuyến khích hợp tác, sáng tạo, thương mại hóa và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/4/2026 với 3 điều. Những nội dung chủ yếu trong Luật như: Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ; thúc đẩy khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ; bảo hộ đối tượng mới; xử lý vấn đề mới phát sinh và nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ…
Luật Công nghệ cao và Luật Chuyển đổi số đều có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.
Cụ thể, Luật Công nghệ cao gồm 6 chương, 27 điều; tạo hành lang pháp lý đầy đủ, thống nhất để thúc đẩy phát triển công nghệ cao, đặc biệt là công nghệ chiến lược; tập trung nguồn lực quốc gia cho nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và làm chủ các công nghệ có tính đột phá, lan tỏa. Đồng thời, hoàn thiện chính sách, xác định công nghệ cao, công nghệ chiến lược là một trong những đột phá chiến lược nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ quốc gia.
* Tháo gỡ các “điểm nghẽn” trong xây dựng
Gồm 8 chương, 95 điều, Luật Xây dựng được ban hành nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về xây dựng theo hướng thuận lợi, thông thoáng, minh bạch, an toàn, chi phí tuân thủ thấp; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi, minh bạch, bình đẳng cho người dân và doanh nghiệp; khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn công tác đầu tư xây dựng; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.
Hai luật trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn gồm 4 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Cơ bản, Luật kế thừa, phát triển các quy định đã được áp dụng ổn định, có hiệu quả, thực tiễn không có vướng mắc; đồng thời luật hóa quy định về phân định trách nhiệm, thẩm quyền phù hợp tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và tiếp tục phân quyền, phân cấp, đơn giản hóa quy trình, thủ tục, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Các nội dung sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ hệ thống pháp luật; tiếp tục rà soát bảo đảm phù hợp tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp cũng như tiếp tục xử lý, tháo gỡ vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn.../.
Báo ảnh Việt Nam/TTXVN

