Đánh giá việc đưa “lý luận về đường lối Đổi mới” trở thành bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng, Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Loan cho rằng việc này phản ánh một bước phát triển quan trọng trong tiến trình tự hoàn thiện và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Sự kiện này không chỉ thể hiện tính kế thừa sâu sắc mà còn khẳng định bản lĩnh tự đổi mới, sáng tạo của Đảng trong bối cảnh lịch sử mới.
Trước hết, đây là sự kế thừa và phát triển biện chứng từ nền tảng tư tưởng đã được xác lập là chủ nghĩa Marx - Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Đường lối Đổi mới, khởi xướng từ Đại hội VI (1986), là thành quả của quá trình vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn Việt Nam, giải phóng sức sản xuất, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và đạt được những thành tựu to lớn. Việc nâng tầm lý luận về Đổi mới lên thành bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng chính là sự thừa nhận khoa học đối với giá trị lịch sử, tính đúng đắn và sức sống của đường lối này; cũng như khẳng định tính liên tục, ổn định và phát triển trong tư duy lý luận của Đảng, từ một chủ trương, chính sách cụ thể trong giai đoạn nhất định trở thành một hệ giá trị lý luận dẫn dắt lâu dài.
Thứ hai, hành động này thể hiện rõ bản lĩnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng. Trong bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng với những thách thức phức tạp như cách mạng công nghiệp 4.0, biến đổi khí hậu, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, đòi hỏi Đảng phải không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện lý luận để giữ vững vai trò tiên phong. Việc chính thức hóa “lý luận về đường lối Đổi mới” vào nền tảng tư tưởng cho thấy Đảng nhận thức sâu sắc yêu cầu đó, chủ động đổi mới ngay trong nhận thức lý luận của mình. Đó không phải là sự phủ nhận quá khứ mà là sự phát triển lên một tầm cao mới, lấy tinh thần Đổi mới làm động lực nội sinh cho sự phát triển của chính Đảng và toàn xã hội.
Thứ ba, sự đổi mới này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên mới. Một khi đã trở thành một phần nền tảng tư tưởng, tinh thần và nguyên tắc Đổi mới sẽ định hướng cho mọi hoạt động lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, từ hoạch định đường lối, chính sách đến tổ chức thực hiện, cung cấp cho Đảng một “la bàn” lý luận linh hoạt, giúp Đảng chủ động thích ứng, dẫn dắt đất nước vượt qua các thách thức, nắm bắt cơ hội của thời đại. Cụ thể, trong kỷ nguyên của kinh tế số, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, nền tảng tư tưởng được bổ sung này sẽ cổ vũ tư duy đột phá, khuyến khích sáng tạo, dám nghĩ dám làm, tạo điều kiện để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược như xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia; củng cố niềm tin trong nội bộ Đảng và sự ủng hộ của nhân dân, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tóm lại, việc đưa “lý luận về đường lối Đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng là một quyết sách mang tầm chiến lược, thể hiện tầm nhìn sâu rộng, sự kế thừa có phát triển và bản lĩnh tự đổi mới mạnh mẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là cơ sở lý luận vững chắc để Đảng tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo, dẫn dắt dân tộc Việt Nam vững bước trên con đường phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thành công mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trong kỷ nguyên mới.
Đánh giá về quyết tâm của Đảng trong việc thực hiện công cuộc Đổi mới lần thứ 2, Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Loan khẳng định, việc định vị Đại hội XIV như cột mốc mở đầu cho công cuộc đổi mới lần thứ hai và khởi động một “kỷ nguyên mới” phản ánh quyết tâm chính trị mạnh mẽ và tầm nhìn chiến lược dài hạn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quyết tâm này không phải là sự khởi đầu từ con số 0, mà được xây dựng trên nền tảng những thành tựu và bài học kinh nghiệm quan trọng thu được trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, đồng thời xuất phát từ yêu cầu bức thiết phải chủ động thích ứng với một bối cảnh quốc tế và trong nước chuyển biến nhanh chóng, phức tạp.
Thành tựu của nhiệm kỳ Đại hội XIII (2021-2025) chính là cơ sở thực tiễn quan trọng để khẳng định tính khả thi và sự cần thiết của một lộ trình đổi mới mạnh mẽ hơn. Mặc dù chịu tác động nặng nề của đại dịch toàn cầu và các biến động địa chính trị, Việt Nam vẫn duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng khả quan, củng cố niềm tin xã hội, và nâng cao vị thế quốc tế. Đặc biệt, các đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực bước đầu được triển khai, cùng với quá trình chuyển đổi số và phát triển kinh tế số được đẩy nhanh, đã tạo ra những tiền đề vật chất và kinh nghiệm quản trị quý giá. Chính những kết quả này cho phép Đảng tự tin đề ra một chương trình nghị sự táo bạo và toàn diện hơn cho giai đoạn tiếp theo.
Về tính hợp lý và khả thi của lộ trình với các cột mốc 2030 và 2045, có thể nhận thấy đây là một kế hoạch được xây dựng có căn cứ khoa học, thể hiện tư duy kế thừa và phát triển. Lộ trình được thiết kế theo logic tăng tiến: Giai đoạn 2026-2030 tập trung vào việc “xác lập mô hình tăng trưởng mới” và “hoàn thiện đồng bộ thể chế”, tạo đà cho bước nhảy vọt. Đây là giai đoạn then chốt để giải quyết các điểm nghẽn nội tại, hoàn thiện khung pháp lý cho nền kinh tế số, kinh tế xanh và đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa dựa trên khoa học-công nghệ. Các chỉ tiêu cụ thể về tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng kinh tế số và chất lượng nguồn nhân lực đặt ra là tham vọng nhưng nằm trong khả năng nếu duy trì được đà cải cách mạnh mẽ và huy động hiệu quả mọi nguồn lực.
Tầm nhìn đến năm 2045 – kỷ niệm 100 năm thành lập nước – với mục tiêu trở thành một nước phát triển có thu nhập cao không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng mà còn là một la bàn định hướng dài hạn, đòi hỏi sự kiên trì, nhất quán và liên tục điều chỉnh, bổ sung chính sách qua từng giai đoạn. Tính khả thi của lộ trình phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực điều hành hiệu quả của bộ máy nhà nước, sự đồng thuận xã hội, và khả năng thu hút, phân bổ nguồn lực (đặc biệt là vốn và công nghệ) sẽ là những yếu tố then chốt.
Tiến sĩ Phạm Thị Thanh Loan khẳng định, quyết tâm thực hiện công cuộc đổi mới lần thứ hai của Đảng, với Đại hội XIV làm bước ngoặt, là một phản ứng chiến lược cần thiết và kịp thời trước những đòi hỏi của thời đại. Lộ trình 2030-2045 được đề ra dựa trên những căn cứ thực tiễn từ thành công bước đầu của nhiệm kỳ XIII, thể hiện tầm nhìn dài hạn và được thiết kế với tính logic cao. Thành công của lộ trình này sẽ tiếp tục khẳng định và nâng tầm vai trò lãnh đạo không thể thay thế của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và hiện đại hóa đất nước./.
Báo ảnh Việt Nam/TTXVN
