Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến sân bay quốc tế Sydney Kingsford Smith. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN
Bên lề chuyến thăm, phóng viên TTXVN tại Sydney đã trao đổi với Tiến sĩ Frank Alafaci, Chủ tịch Hội đồng Thượng đỉnh Doanh nghiệp Australia (Australian Business Summit Council), về triển vọng hợp tác kinh tế song phương cũng như những động lực mới giúp hai nước khai thác hiệu quả hơn các tiềm năng còn bỏ ngỏ, hướng tới mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai chiều lên 20 tỷ USD.
Theo Tiến sĩ Frank Alafaci, khuôn khổ Đối tác Chiến lược Toàn diện đã tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam và Australia mở rộng hợp tác thương mại, đầu tư, đồng thời hình thành các chuỗi liên kết kinh tế có giá trị gia tăng cao trong giai đoạn tới.
Ông nhận định hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao. Australia có lợi thế về tài nguyên, năng lượng, giáo dục, dịch vụ chuyên môn và nguồn vốn đầu tư, trong khi Việt Nam sở hữu nền sản xuất năng động, thị trường tiêu dùng đang tăng trưởng nhanh và ngày càng khẳng định vai trò là một trung tâm sản xuất, kết nối chuỗi cung ứng trong khu vực.
Theo Tiến sĩ Alafaci, bước phát triển tiếp theo của quan hệ kinh tế song phương không chỉ dừng lại ở việc gia tăng kim ngạch thương mại mà cần hướng tới xây dựng các liên doanh, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và tăng cường kết nối trực tiếp giữa cộng đồng doanh nghiệp hai nước. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để quan hệ kinh tế Việt Nam – Australia phát triển theo chiều sâu và bền vững hơn.
Đánh giá về mục tiêu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 20 tỷ USD, ông cho rằng đây là mục tiêu hoàn toàn khả thi nếu hai nước tập trung khai thác các lĩnh vực có giá trị gia tăng và tiềm năng tăng trưởng cao như năng lượng tái tạo, khoáng sản chiến lược, công nghiệp chế tạo tiên tiến, nông nghiệp, chế biến thực phẩm, công nghệ số, giáo dục, logistics và dịch vụ tài chính.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến sân bay quốc tế Sydney Kingsford Smith. Ảnh: Thống Nhất – TTXVN
Để tận dụng hiệu quả những cơ hội này, theo Tiến sĩ Alafaci, Việt Nam cần tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước chuyển từ mô hình sản xuất dựa trên lợi thế chi phí thấp sang mô hình tạo giá trị thông qua đổi mới công nghệ, chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, phát triển bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ông cũng cho rằng các hiệp định thương mại tự do đã tạo điều kiện thuận lợi cho lưu chuyển hàng hóa giữa hai nước. Tuy nhiên, để thúc đẩy hợp tác đầu tư và kinh doanh hiệu quả hơn, cộng đồng doanh nghiệp cần hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật, các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn, cơ chế quản lý cũng như môi trường kinh doanh của mỗi bên.
Đối với doanh nghiệp Việt Nam, Tiến sĩ Alafaci khuyến nghị nên coi Australia là thị trường chiến lược dài hạn thay vì chỉ là điểm đến xuất khẩu. Theo ông, yếu tố quyết định thành công là xây dựng được quan hệ hợp tác dựa trên lòng tin, sự am hiểu về môi trường pháp lý, các quy định tuân thủ và phương thức kinh doanh tại thị trường sở tại.
Ông nhấn mạnh niềm tin không thể hình thành trong thời gian ngắn mà cần được vun đắp thông qua quá trình hợp tác thực chất, đầu tư cho nghiên cứu thị trường, phát triển thương hiệu, cải tiến mẫu mã, bao bì sản phẩm và thiết lập mạng lưới đối tác địa phương.
Tiến sỹ Frank Alafaci, Chủ tịch Hội đồng Thượng đỉnh Doanh nghiệp Australia cho rằng, triển vọng mở rộng thương mại - đầu tư giữa Việt Nam và Australia là rất lớn khi nền kinh tế hai nước có tính bổ trợ cho nhau. Ảnh: Trung Trang – PV TTXVN tại Australia
Từ kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy về chiến lược doanh nghiệp, Tiến sĩ Alafaci cho rằng việc hợp tác với các doanh nghiệp bản địa là phương thức hiệu quả giúp doanh nghiệp nước ngoài nhanh chóng nắm bắt đặc điểm của từng thị trường, từ khuôn khổ pháp lý, cơ hội đầu tư đến những rào cản và cách thức tiếp cận khách hàng.
Theo ông, đây cũng là bài học hữu ích đối với cả doanh nghiệp Australia khi đầu tư vào Việt Nam, cũng như doanh nghiệp Việt Nam mở rộng hoạt động tại Australia. Khi xây dựng được lòng tin và sự thấu hiểu lẫn nhau, doanh nghiệp hai nước sẽ có điều kiện hợp tác hiệu quả hơn, chia sẻ kinh nghiệm nhiều hơn và cùng tạo ra những lợi ích bền vững, mang lại giá trị lâu dài cho cả hai nền kinh tế./.