Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Washington, Tiến sĩ Ngô Chí Vinh, Giám đốc điều hành kiêm nhà khoa học cấp cao tại Công ty AlchLight LLC, bang New York (Mỹ), cho rằng Việt Nam có thể từng bước tham gia chuỗi giá trị lượng tử bằng cách tập trung vào những khâu có khả năng tạo lợi thế và giải quyết các “điểm nghẽn” của lĩnh vực này.
Theo Tiến sĩ Ngô Chí Vinh, Việt Nam có thể rút ra những bài học quan trọng từ cách các nước xây dựng chiến lược phát triển công nghệ lượng tử. Ông lấy ví dụ một số quốc gia mạnh về công nghệ lượng tử vẫn chọn phát triển hẹp thay vì dàn trải. Phần Lan có sẵn Bluefors và Đại học Aalto, nhưng lộ trình của họ rất chậm rãi: 5 qubit (bit lượng tử) năm 2021, 20 qubit năm 2023, 50 qubit tháng 3/2025. Lộ trình này là bốn năm ba bậc.
Còn đối với Việt Nam, Tiến sĩ Ngô Chí Vinh cho rằng Việt Nam đã có những bước đi đáng ghi nhận về mặt chính sách và đường lối phát triển như Nghị quyết, Quyết định liên quan công nghệ lượng tử. Theo đó, ông nêu hai ưu tiên mà Việt Nam cần thực hiện ở giai đoạn này. Thứ nhất là an ninh chủ quyền: phát triển và thực thi mật mã hậu lượng tử (PQC) và an ninh mạng (cybersecurity).
Quyết định số 1226/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Khuyến khích xã hội hóa hoạt động nghiên cứu, phát triển ứng dụng mật mã dân sự giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035" có thể bổ sung thêm một mốc thời gian cho việc chuyển đổi ở các hệ thống trọng yếu dựa theo bộ chuẩn quốc tế công bố vào tháng 8/2024. Thứ hai là nền tảng: tập trung đào tạo lực lượng kỹ sư ứng dụng. Đây là lực lượng thực thi và cũng là điều kiện để chuyên gia đầu ngành về nước có đội ngũ làm việc cùng.
Tiến sĩ Ngô Chí Vinh cũng đề cập đến sự phối hợp giữa Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp trong phát triển công nghệ lượng tử. Theo ông, dù Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã lập Ban Chỉ đạo Trung ương nhưng Việt Nam vẫn cần chỉ định thêm một đầu mối cụ thể cho lĩnh vực công nghệ lượng tử vì hiện nay việc này còn liên quan tới nhiều cơ quan. Ngoài ra, Nhà nước có thể đóng vai trò là khách hàng đầu tiên bằng cách đặt mốc chuyển đổi cho khối tài chính và viễn thông. Đây là công cụ gần như không tốn ngân sách nhưng tác động rộng: khi có mốc, các đơn vị đưa được hạng mục này vào kế hoạch và dự toán hằng năm, và doanh nghiệp trong nước có thị trường thật để đầu tư.
Về mặt giữ người, Quyết định số 1483/QĐ-TTg về phê duyệt Đề án “Phát triển hệ thống các trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm, các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tập trung cho công nghệ chiến lược" đã mở ra hai cơ chế rất đúng hướng. Đó là trả lương theo hợp đồng gắn với vị trí và kết quả, và cho phòng thí nghiệm giữ lại doanh thu dịch vụ để tái đầu tư. Các cơ chế này đủ mạnh và việc còn lại là hướng dẫn để các đơn vị áp dụng đúng theo quyết định. Cuối cùng, Việt Nam cũng cần cân nhắc bổ sung chỉ tiêu đánh giá bằng cách đếm hợp đồng doanh nghiệp đặt hàng và sản phẩm ra được thị trường, bên cạnh cách chỉ tiêu công bố hiện nay như số lượng bài báo.
Theo Tiến sĩ Ngô Chí Vinh, việc phát triển nguồn nhân lực lượng tử ở giai đoạn này nên bắt đầu từ tầng giữa, tức lớp kỹ sư ứng dụng. Việc đào tạo một chuyên gia có thể mất 10 đến 15 năm, nhưng việc đào tạo một kỹ sư ứng dụng chỉ mất 2 đến 4 năm và đây là kết quả sớm có thể đạt được. Việc đưa công nghệ lượng tử vào chương trình đại học là rất nên và nên lồng vào các ngành đã có thay vì mở ngành mới. Mở ngành phải xin mã ngành và cần nhiều bước chuẩn bị, còn xây một học phần thì thuộc quyền tự chủ của trường. Các học phần về công nghệ lượng tử và mật mã hậu lượng tử phù hợp với công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, công nghệ bán dẫn, an toàn thông tin và toán ứng dụng.
Riêng toán, ông Ngô Chí Vinh cho rằng đây là lợi thế của Việt Nam và cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Hai chuẩn mật mã hậu lượng tử chính hiện nay đều dựa trên bài toán lưới, tức là toán thuần mà không cần phòng sạch, không cần thiết bị đắt tiền. Quan trọng hơn, nếu muốn ban hành tiêu chuẩn quốc gia thì bắt buộc phải có người Việt tự thẩm định được thuật toán, việc này không thể thuê ngoài.
Tuy nhiên, khi lồng vào các ngành đã có, có hai cách khả thi để nhà tuyển dụng có thể phân biệt được kỹ sư lượng tử với các kỹ sư khác. Một là ghi chuyên ngành lên phụ lục văn bằng; hai là lập chứng chỉ năng lực quốc gia phân bậc (đánh giá kỹ sư phần mềm qua dự án thực tế, và kỹ sư phần cứng qua thời gian thao tác tại phòng thí nghiệm).
Theo ông Ngô Chí Vinh, nút thắt hiện tại là giảng viên và người thẩm định cho năng lực về công nghệ lượng tử. Giải pháp khả thi là ưu tiên đào tạo trước cho khoảng 50 – 100 giảng viên đã có nền tảng ở công nghệ thông tin, điện tử viễn thông, công nghệ bán dẫn, an toàn thông tin và toán. Thời gian đào tạo sẽ ngắn hơn và hiệu quả đào tạo sẽ cao hơn.
Trong bối cảnh nguồn nhân lực công nghệ cao còn hạn chế, Tiến sĩ Ngô Chí Vinh cho rằng ở giai đoạn này, cơ chế linh hoạt sẽ hiệu quả hơn là yêu cầu chuyên gia về nước hoàn toàn. Cụ thể là cơ chế mời làm bán thời gian khoảng 2 đến 3 tháng mỗi năm hoặc cơ chế cho làm việc từ xa. Cái lợi là Việt Nam vừa có được đóng góp của họ, vừa giữ được họ trong các phòng thí nghiệm hàng đầu thế giới, nơi có thiết bị và mạng lưới tối tân về công nghệ lượng tử. Ngoài ra, yếu tố quyết định vẫn là lớp kỹ sư ứng dụng đã được đề cập ở trên. Chuyên gia đầu ngành ở lại lâu dài khi có đội ngũ để cùng làm việc.
Về bảo mật, ông Ngô Chí Vinh cho rằng Việt Nam nên có tiêu chí phân loại rõ ràng ngay từ khâu duyệt đề cương, theo ba mức: công khai, hạn chế và bảo mật. Chính phủ Mỹ hiện cũng có nhiều phân lớp cho việc bảo mật trong các dự án nghiên cứu và phát triển sản phẩm của họ. Khi tiêu chí đã thống nhất thì những đề tài công khai sẽ khai thác được các lợi ích từ hợp tác quốc tế và đào tạo, còn những đề tài bảo mật thì được bảo vệ chặt chẽ với quy trình thẩm tra nhân sự nghiêm ngặt.
Công nghệ lượng tử đang chuyển dần từ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm sang các sản phẩm và dịch vụ thương mại. Tiến sĩ Ngô Chí Vinh cho rằng trước khi đảm bảo có thể tham gia thương mại hóa ở khâu nào, Việt Nam cần định vị 4 lớp năng lực khi xây dựng hệ sinh thái công nghệ lượng tử: lớp chủ quyền (mật mã, chuẩn đo lường), lớp nền tảng (toán, thuật toán), lớp kỹ thuật (cảm biến, linh kiện, vật liệu), và lớp tích hợp hệ thống/thị trường.
Theo ông Ngô Chí Vinh, trong 3 đến 5 năm, một số sản phẩm có thể thực hiện như: dịch vụ chuyển đổi mật mã hậu lượng tử, thiết bị sinh số ngẫu nhiên lượng tử (QRNG), và có thể là khảo sát ngầm bằng cảm biến lượng tử cho hạ tầng giao thông. Việc chọn hướng sản phẩm nào thì cần khảo sát năng lực thực tế của các viện và doanh nghiệp trong nước. Về đường lâu dài, Việt Nam có thể cân nhắc dùng hạ tầng quốc tế đến năm 2030, hiểu công nghệ lõi đến năm 2040, tự xây linh kiện và phần mềm đến năm 2050. Cuối cùng là làm chủ công nghệ và đóng góp vai trò trong chuỗi giá trị quốc tế ở chỗ phụ trợ ở điểm nghẽn của công nghệ (khác với gia công giá trị thấp)./.
Báo ảnh Việt Nam/TTXVN
