Chiều 9/5, tại thành phố Cần Thơ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội nghị triển khai Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026 - 2035. Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ từ tư duy ứng phó thụ động sang chủ động phòng ngừa, thích ứng theo hướng thuận thiên, bảo đảm tính liên kết vùng để phát triển bền vững.
Quang cảnh hội nghị. Ảnh: Thanh Liêm - TTXVN
Tại hội nghị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng khẳng định Kết luận số 26-KL/TW về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026 - 2035 thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bộ Chính trị trước những thách thức cực đoan từ biến đổi khí hậu và tác động của con người đối với vùng hạ du sông Mê Công.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Thanh Liêm - TTXVN
Người đứng đầu ngành nông nghiệp và môi trường yêu cầu các địa phương phải nhận diện rõ bức tranh thiên tai hiện nay mang đậm dấu ấn của “nhân tai”, từ việc khai thác tài nguyên quá mức đến sự thay đổi nguồn nước từ thượng nguồn. Việc quán triệt tinh thần chỉ đạo mới phải được thực hiện khẩn trương nhằm thay đổi căn bản phương thức quản trị rủi ro trên toàn vùng.
Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh quan điểm quản lý hiện đại không đồng nghĩa với việc ngăn cấm cực đoan mà phải hướng tới sự quản lý thông minh, linh hoạt. Theo đó, các tỉnh, thành phố cần rà soát lại toàn bộ hệ thống quy hoạch chuyên ngành, từ quy hoạch phân khu đến quy hoạch đô thị và nông thôn, bảo đảm sự tương thích với các hình thái thiên tai đặc thù. Đặc biệt, công tác quản lý tài nguyên nước, cát lòng sông và nước ngầm cần được siết chặt để tránh tình trạng sụt lún, sạt lở diễn biến phức tạp hơn.
Một trong những sáng kiến quan trọng được đề cập là việc chuyển đổi mục đích sử dụng các bãi bồi, cồn cát đang bị sạt lở thay vì đầu tư các công trình kè tốn kém. Bộ trưởng phân tích, thay vì chi hàng trăm tỷ đồng để bảo vệ những diện tích nhỏ hẹp không còn khả năng phục hồi tự nhiên, các địa phương có thể nghiên cứu biến những khu vực này thành mỏ khoáng sản phục vụ hạ tầng giao thông, từ đó tạo nguồn thu tái đầu tư cho công tác an sinh xã hội. Tư duy thích ứng này giúp cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo vệ môi trường, phù hợp với nguyên tắc thuận thiên.
Về hạ tầng, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng yêu cầu các đơn vị trực thuộc phối hợp với địa phương rà soát tính hiệu quả của các công trình kiểm soát nguồn nước. Điển hình như mô hình cống âu Nguyễn Tấn Thành tại Đồng Tháp đã phát huy hiệu quả bảo vệ hàng chục nghìn ha sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt cho hàng triệu dân với chi phí đầu tư hợp lý (khoảng 460 tỷ đồng). Việc nhân rộng các mô hình này cần gắn liền với tầm nhìn toàn vùng, tránh tình trạng đầu tư manh mún, cục bộ gây tổn thương cho các địa phương lân cận.
Để nâng cao năng lực quản trị, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Các địa phương cần xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông, cập nhật theo thời gian thực về diễn biến sụt lún, hạn mặn và nguồn nước từ thượng nguồn. Việc phát triển các ứng dụng di động như mô hình Forestry 4.0 sẽ giúp các cấp quản lý từ xã đến trung ương nắm bắt chính xác hiện trạng tài nguyên và rủi ro thiên tai, đảm bảo dữ liệu luôn “đúng, đủ, sạch, sống”.
Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, ưu tiên hàng đầu được xác định là bảo vệ tính mạng và tài sản nhân dân. Bộ trưởng yêu cầu các tỉnh cung cấp số liệu chính xác về các hộ dân trong vùng nguy hiểm để xây dựng kế hoạch sắp xếp lại dân cư dài hạn. Với nhu cầu di dời ước tính hàng chục nghìn hộ, việc tính toán kinh phí và quỹ đất tái định cư phải được đưa vào kế hoạch đầu tư công trung hạn và dài hạn đến năm 2035 và tầm nhìn xa hơn. Đồng thời, các địa phương cần tăng cường hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực từ các tổ chức đa phương để thực hiện các dự án hạ tầng thích ứng quy mô lớn.