Nghị quyết 68 – đổi mới tư duy, xóa bỏ mọi rào cản để hình thành thế hệ doanh nghiệp tỉ đô
Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong vài thập kỷ qua ghi dấu ấn đậm nét của khu vực kinh tế tư nhân. Từ chỗ là những hộ kinh doanh nhỏ lẻ, kinh tế tư nhân đã vươn mình trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao, Việt Nam không thể chỉ dựa vào số lượng hàng triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà cần phải nuôi dưỡng và phát triển được những "sếu đầu đàn" – những tập đoàn kinh tế tư nhân quy mô tỉ đô, có đủ năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng và định vị thương hiệu trên trường quốc tế.
Chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng
Tại Việt Nam, nếu như trong giai đoạn đầu Đổi mới, kinh tế tư nhân chỉ giữ vai trò thứ yếu, nền kinh tế phụ thuộc lớn vào khu vực quốc doanh và khối định hướng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), thì trong hai thập niên trở lại đây, khu vực này đã trỗi dậy mạnh mẽ.
Tính đến nay, Việt Nam có gần một triệu doanh nghiệp và khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể.
Sự bùng nổ về số lượng phản ánh tinh thần khởi nghiệp dồi dào trong nhân dân.
Mặc dù vậy, một thực tế khách quan là cấu trúc của khối tư nhân nước ta đang phát triển theo mô hình "hình học chênh vênh".
Hiện tại, hơn 97% doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thuộc nhóm quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs), trong đó tỷ lệ siêu nhỏ chiếm áp đảo.
Cú hích từ Nghị quyết số 68-NQ/TW
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân ra đời được kỳ vọng là một bước ngoặt lớn về cả lý luận lẫn thực tiễn.
Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, Nghị quyết 68 thể hiện bước tiến lớn trong tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Đảng ta, đó là: "Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia".
Nhận thức chiến lược này đã nâng tầm vị thế của khu vực tư nhân: từ vai trò "vệ tinh", thứ yếu trở thành "trụ cột" phát triển, song hành cùng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tạo thành thế "kiềng ba chân" vững chắc, bảo đảm cho một nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập thành công.
Nhìn lại hành trình 40 năm Đổi mới kể từ năm 1986, Nghị quyết số 68-NQ/TW chính là nấc thang cao nhất về tư duy thể chế.
Theo đó, chúng ta phải xoá bỏ triệt để nhận thức, tư tưởng, quan niệm, thái độ định kiến về kinh tế tư nhân; đánh giá đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước; nuôi dưỡng, khuyến khích tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo của người dân, doanh nghiệp, tôn trọng doanh nghiệp, doanh nhân, xác định doanh nhân là người chiến sĩ trên mặt trận kinh tế.
Tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định, an toàn, dễ thực thi, chi phí thấp, đạt chuẩn quốc tế, bảo đảm khả năng cạnh tranh khu vực, toàn cầu. Kịp thời xây dựng, hoàn thiện pháp luật và cơ chế, chính sách đột phá để khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển.
Khoảng cách thực thi sau một năm nhìn lại
Sau hơn một năm triển khai, Nghị quyết 68 đã thổi một luồng sinh khí mới và tạo làn sóng kỳ vọng lớn.
Mới đây, tại Tọa đàm "Dấu ấn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68", TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) nhận định, Nghị quyết 68 là một dấu mốc rất lớn trong tiến trình phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết không chỉ tạo ra nhận thức mới mà còn mở ra động lực mới cho quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường hiện đại.
Đồng quan điểm, TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cũng cho rằng thành tựu lớn nhất của Nghị quyết 68 là sự thay đổi mạnh mẽ về tư tưởng và định hướng chính sách với hàng loạt nghị quyết, văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm tháo gỡ điểm nghẽn cho khu vực kinh tế tư nhân, tạo niềm tin và sự hứng khởi cho doanh nghiệp, nhất là nhóm doanh nghiệp lớn. Vì thế, nhiều dự án quy mô hàng nghìn tỷ đồng liên tiếp được khởi công bởi các tập đoàn lớn đã cho thấy tác động tích cực của Nghị quyết đối với doanh nghiệp lớn là rất rõ rệt.
Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế cũng thẳng thắn chỉ ra những thách thức nội tại cốt lõi. Đó là áp lực về mật độ doanh nghiệp. Mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam có 2 triệu doanh nghiệp và năm 2045 có 3 triệu doanh nghiệp đối mặt với thách thức lớn khi tỷ lệ doanh nghiệp trên dân số hiện nay còn rất thấp (khoảng 100 người mới có một doanh nghiệp).
Bên cạnh đó là bẫy gia công và giá trị gia tăng thấp. Dù Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) nhưng năng lực tận dụng ưu đãi của khối doanh nghiệp nội địa vẫn chưa tương xứng.
Con đường để nhân rộng mô hình doanh nghiệp tỉ đô
Để hình thành và nhân rộng thế hệ doanh nghiệp tư nhân tỉ đô trong kỷ nguyên hội nhập, Việt Nam cần một chiến lược tiếp cận mang tính đột phá và đồng bộ:
Một là, chuyển đổi tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo và phục vụ. Nhà nước cần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cắt giảm triệt để rào cản hành chính và đặc biệt là bảo vệ vững chắc quyền tài sản hợp pháp của doanh nghiệp. Sự nhất quán và tính dễ dự báo của chính sách là điều kiện tiên quyết để các tập đoàn yên tâm dốc vốn đầu tư dài hạn vào các ngành công nghiệp nền tảng, thay vì xu hướng phân bổ vốn vào các thương vụ ngắn hạn hoặc mang tính đầu cơ trục lợi.
Hai là, chuyển dịch từ hỗ trợ dàn trải sang phân bổ nguồn lực có trọng tâm. Chính sách quốc gia cần tập trung ưu đãi, tạo không gian phát triển cho các doanh nghiệp tư nhân lớn dấn thân vào các lĩnh vực cốt lõi như công nghệ cao, chuyển đổi xanh, công nghiệp chế tạo và hạ tầng chiến lược.
Ba là, chuẩn hóa năng trị quản trị toàn cầu và tư duy đại chúng. Để đứng vững trên trường quốc tế, bản thân các doanh nghiệp tỷ đô Việt Nam phải chủ động rũ bỏ mô hình "kinh tế gia đình" để chuyển dịch sang cấu trúc công ty đại chúng minh bạch; áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quản trị quốc tế (như bộ tiêu chuẩn ESG - Môi trường, Xã hội và Quản trị); tăng cường ngân sách cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và xây dựng chính sách thu hút nhân tài toàn cầu.
Khi khát vọng tự tôn dân tộc của đội ngũ doanh nhân được cộng hưởng cùng một thể chế kiến tạo, minh bạch, thế hệ tập đoàn kinh tế tư nhân tỉ đô của Việt Nam được hình thành và nhân rộng không chỉ là bệ đỡ vững chắc cho nội lực kinh tế nước nhà mà còn tự tin khẳng định vị thế của thương hiệu Việt trên bản đồ kinh tế toàn cầu.
- Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Thanh Hòa/Báo ảnh Việt Nam & TTXVN







