Hà Nội - Bắc Ninh - Hưng Yên liên kết phát triển nông nghiệp xanh
Từ những vùng nguyên liệu trải dài tại đồng bằng sông Hồng, các trung tâm logistics, nhà máy chế biến đến những gian hàng nông sản trên các sàn thương mại điện tử quốc tế, chuỗi giá trị mới của nông nghiệp xanh Hà Nội- Bắc Ninh- Hưng Yên đang hình thành. Không còn phát triển riêng lẻ, 3 tỉnh thành này đang hướng tới một mô hình liên kết vùng, nơi công nghệ, thị trường và sản xuất cùng kết nối để gia tăng giá trị cho nông sản Việt Nam. Đó cũng là thông điệp xuyên suốt tại Hội nghị "Kết nối đầu tư - Tăng cường liên kết vùng trong phát triển nông nghiệp thông minh và kinh tế xanh" vừa diễn ra tại Hà Nội.
Liên kết để tạo chuỗi giá trị
Ba địa phương nằm liền kề trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đang sở hữu những lợi thế bổ trợ cho nhau. Hà Nội là trung tâm tiêu dùng lớn, đồng thời dẫn dắt về tiêu chuẩn chất lượng, công nghệ và hệ thống phân phối. Bắc Ninh phát triển mạnh công nghiệp công nghệ cao và chế biến, trong khi Hưng Yên có thế mạnh về nông nghiệp hàng hóa với nhiều vùng chuyên canh quy mô lớn.
Theo ông Lê Trung Hiếu, Phó Giám đốc Sở Tài chính Hà Nội, trong bối cảnh chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn, liên kết vùng không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh. Theo ông, muốn hình thành nền nông nghiệp hiện đại cần đồng thời phát triển ba trụ cột gồm hạ tầng, tài chính và chuỗi giá trị. Hệ thống giao thông, logistics, kho lạnh, trung tâm phân phối và hạ tầng số cần được quy hoạch theo quy mô vùng để giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian lưu thông. Bên cạnh đó là các nguồn vốn dài hạn cho nông nghiệp công nghệ cao và chuỗi sản xuất khép kín từ nghiên cứu giống, sản xuất, chế biến đến tiêu thụ và xuất khẩu.
Nếu trước đây mỗi địa phương phát triển theo thế mạnh riêng thì nay mục tiêu là kết nối để tạo nên một hệ sinh thái thống nhất, trong đó mỗi mắt xích đều góp phần nâng cao giá trị của toàn chuỗi.
Liên kết vùng sẽ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi sản phẩm đến được người tiêu dùng. Bà Phạm Thị Thùy Linh, Giám đốc Đối ngoại và Đầu tư Central Retail Việt Nam, cho biết hơn 90% hàng hóa trong hệ thống bán lẻ của doanh nghiệp là sản phẩm Việt Nam. Với khoảng 2.000 nhà cung cấp trên cả nước, Central Retail đang hướng tới xây dựng chuỗi cung ứng liên vùng thay vì phát triển riêng lẻ từng địa phương, giúp nông sản từ hợp tác xã và hộ sản xuất tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Ở quy mô quốc tế, thương mại điện tử xuyên biên giới đang mở thêm một cánh cửa mới cho nông sản Việt Nam. Theo bà Nguyễn Hoàng Thúy, Quản lý tài khoản cấp cao Amazon Global Selling Việt Nam, trong giai đoạn từ tháng 8/2024 đến tháng 7/2025, số lượng sản phẩm của doanh nghiệp Việt bán trên Amazon tăng gần 35%, trong khi số thương hiệu đăng ký Amazon Brand Registry tăng gần 30%. Các nhóm hàng như rau quả sấy, trà, thảo mộc, gia vị, hạt và cà phê đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực. Amazon cũng triển khai nhiều chương trình đào tạo miễn phí nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ xây dựng thương hiệu và tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng toàn cầu.
Số hóa từ cánh đồng đến bàn ăn tạo hệ sinh thái xanh
Muốn xây dựng chuỗi giá trị bền vững, vùng nguyên liệu phải được quản lý theo tiêu chuẩn mới. Ông Nguyễn Công Điểm, đại diện Tập đoàn IDI và Liên minh Invest Global, cho biết doanh nghiệp đang đầu tư chế biến sâu các sản phẩm từ cà chua, trái cây, tinh dầu và dược liệu nhằm nâng cao giá trị nông sản. Theo ông, một nhà máy chỉ có thể vận hành hiệu quả khi có vùng nguyên liệu đủ lớn, được quy hoạch đồng bộ và quản lý bằng dữ liệu.
Trong khi đó, bà Nguyễn Hằng Nga, Phó Giám đốc Công ty DACE, chia sẻ doanh nghiệp đã xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ hơn 2.300 ha, liên kết với trên 3.000 hộ nông dân tại Cao Bằng để sản xuất quế, hồi, gừng, nghệ, sả... đạt tiêu chuẩn của châu Âu, Hoa Kỳ và Nhật Bản. Điểm khác biệt là mỗi hộ nông dân đều có hồ sơ số, cho phép truy xuất toàn bộ quá trình sản xuất, từ vùng trồng, vật tư đầu vào đến khâu thu hoạch. Đây đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với nhiều thị trường nhập khẩu.
Theo ông Nguyễn Thành Công, Giám đốc Kinh doanh Trung tâm Nông nghiệp số (VNPT), người tiêu dùng hiện không chỉ mua nông sản mà còn mua cả dữ liệu đi kèm sản phẩm. Mã số vùng trồng, nhật ký điện tử, quy trình sản xuất và khả năng truy xuất nguồn gốc đang trở thành "tấm hộ chiếu" giúp nông sản Việt chinh phục các thị trường khó tính. VNPT hiện đã triển khai hệ thống quản lý số cho khoảng 5.000 hộ trồng chè tại Thái Nguyên và hơn 3.000 hộ trồng điều ở khu vực Đông Nam Bộ. Theo ông Nguyễn Thành Công, chuyển đổi số không phải là việc gắn mã QR lên sản phẩm cuối cùng mà là số hóa toàn bộ hành trình của nông sản từ cánh đồng đến bàn ăn.
Ông Nguyễn Thế Hinh, Phó Trưởng ban Khoa học và Hợp tác quốc tế, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam nhạn định, khi năng lực sản xuất vượt nhu cầu, thị trường sẽ quyết định hướng phát triển của nông nghiệp. Vì vậy, khoa học công nghệ cần được đặt trong mối liên kết với nhu cầu thị trường và chuỗi giá trị.
Tại hội nghị, nhiều doanh nghiệp đã cam kết đồng hành trong quá trình phát triển liên kết vùng. VNPT tiếp tục hỗ trợ số hóa vùng trồng; Central Retail mở rộng hệ thống tiêu thụ; Amazon Global Selling hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu xuất khẩu; các doanh nghiệp chế biến mong muốn tham gia ngay từ giai đoạn quy hoạch vùng nguyên liệu.
Liên kết vùng vì thế không chỉ được đo bằng những biên bản ghi nhớ hợp tác, mà bằng những vùng nguyên liệu đạt chuẩn, những tuyến logistics thông suốt, những chuỗi dữ liệu minh bạch và những sản phẩm mang thương hiệu Việt ngày càng hiện diện nhiều hơn trên thị trường quốc tế. Đó cũng là nền tảng để Hà Nội, Bắc Ninh và Hưng Yên cùng hình thành một hệ sinh thái nông nghiệp xanh, thông minh và phát triển bền vững./.
Bài: Vân Trần - Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam


















