Đêm bên biển nghe thổn thức tiếng trống tuồng
Cuộc sống thời hiện đại cứ ngỡ sẽ cuốn phăng đi tất cả mọi thứ theo mớ hỗn độn của thanh âm và ánh sáng thời thượng. Thế nhưng, cái sân khấu tuồng nhỏ dựng tạm chỉ diễn một đêm bên bờ biển ấy dường như đã neo giữ được cái căn cốt văn hóa tuồng của người xứ Quảng.
Sân khấu tạm bên bờ biển
Đà Nẵng những năm tháng này thay da đổi thịt đến ngỡ ngàng. Những đại lộ thênh thang, những tòa nhà lấp lánh ánh đèn neon và một Sơn Trà kiêu hãnh vươn mình thành thiên đường du lịch biển thời thượng. Người ta mải miết chạy theo sự hào nhoáng của một thành phố đáng sống, đôi khi vô tình quên mất dưới chân những khối bê tông hiện đại kia, mạch ngầm văn hóa ngàn đời vẫn âm thầm chảy. Tôi tìm về làng chài nhỏ bên bờ biển Sơn Trà vào một ngày lễ hội cầu ngư – một trong những ngôi làng hiếm hoi còn giữ lại chút hồn cốt cũ kỹ của một vùng cửa biển. Và chính tại nơi này, tôi đã chứng kiến một đêm diễn làm lay động lòng người, một đêm mà tuồng cổ và lòng người hòa vào làm một, thiêng liêng và đầy kiêu hãnh.
Đêm ấy, biển Sơn Trà lộng gió. Giữa không gian sặc sùi mùi muối mặn và tiếng sóng vỗ rì rào vào mạn thuyền, một sân khấu nhỏ đơn sơ được dựng lên ngay bên bờ cát.
Phía sau hậu trường dựng tạm ấy, một hình ảnh khiến tôi đứng lặng: những người nghệ sĩ của Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh đang ngồi bệt trên chiếc bạt cũ trải ngay bên bờ biển. Không có phòng hóa trang máy lạnh, không có gương lớn viền đèn led rực rỡ, họ soi mình vào những chiếc gương cầm tay nhỏ xíu, tỉ mẩn tô từng nét vẽ hóa trang lên khuôn mặt mình. Gió biển thổi mạnh làm mái tóc họ rối tung, hạt cát mịn theo gió bám vào lớp phấn son chưa kịp khô. Vậy mà, họ vẫn say sưa, nâng niu từng nét cọ như thể đang thực hiện một nghi lễ thiêng liêng nhất cuộc đời.
Xung quanh chiếc chiếu ấy, người dân làng chài và vài người khách du lịch hiếu kỳ đứng vây quanh. Họ ghé mắt nhìn, trầm trồ, bàn tán nhỏ to. Sự tò mò ngây ngô của khán giả chạm vào cái cúi đầu lặng lẽ đầy tập trung của người nghệ sĩ, tạo nên một bức tranh tương phản đẹp đến nao lòng.
Những phận người đắm đuối dưới ánh đèn mờ
Khi tiếng trống lệnh rộ lên, đêm diễn bắt đầu. Không có những kỹ xảo âm thanh, ánh sáng hoành tráng của thời công nghệ, các nghệ sĩ bước ra sân khấu với những trích đoạn tuồng cổ kinh điển. Nhưng ngay khi họ cất tiếng hát, vuốt câu nam, câu khách, hay thực hiện một cái ghìm bộ, cả không gian bờ biển Sơn Trà như ngưng đọng lại.
Dưới ánh đèn mờ hắt ra từ sân khấu đơn sơ, tôi nhìn thấy những đôi mắt rực lửa. Đó là ánh mắt của những người nghệ sĩ đang khát khao, đắm đuối đến tận cùng với nghề. Trong cái thời buổi mà các loại hình giải trí thời thượng, nhạc trẻ, mạng xã hội đang chiếm lĩnh mọi không gian sống; khi mà các rạp tuồng mỗi đêm cứ thưa thớt dần ánh đèn và vắng bóng người xem, thì ở đây, trên bờ cát này, họ lại diễn như thể đây là đêm cuối cùng được đứng trên thánh đường nghệ thuật.
Họ hóa thân vào vai trung thần, nghĩa sĩ, khóc nụ cười đau đớn của nhân vật, mồ hôi trộn lẫn với lớp phấn son đậm đặc chảy tràn trên má. Cái lạnh của gió biển đêm không làm nguội đi cái nhiệt huyết đang rực cháy trong lồng ngực những người nghệ sĩ như kiếp con tằm nhả tơ đang tận hiến cho khán giả những trích tuồng hấp dẫn. Nhìn cách họ xốc lại xiêm y, cách họ đi những bước chân dứt khoát trên nền sân khấu ghép tạm, tôi hiểu rằng đối với họ, tuồng không chỉ là cái nghề để mưu sinh, đó là nghiệp, là máu thịt, là linh hồn mà họ nguyện tôn thờ dù cuộc đời có đổi thay, mai một đến thế nào.
Người nghệ sĩ tuồng như cánh chim bay trong bão, dù đôi cánh có mỏi mệt vì thời cuộc, chỉ cần nhìn thấy một ánh mắt ngóng trông, họ vẫn sẽ hót đến giọt máu cuối cùng.
Mưa thẻ thưởng và tiếng lòng của công chúng
Nhưng câu chuyện đêm tuồng bên bờ biển Sơn Trà sẽ không trọn vẹn nếu chỉ có sự đơn độc độc hành của người nghệ sĩ. Điều khiến trái tim tôi thực sự rung lên những nhịp đập thổn thức, chính là tình cảm của những người xem bên dưới.
Người dân làng chài Sơn Trà - những con người quanh năm mặt sạm đen vì nắng gió, bàn tay chai sần vì lưới bủa mành vây – đêm nay họ đứng, họ ngồi vây kín quanh sân khấu. Họ đón xem tuồng với một sự thành kính và say mê kỳ lạ. Họ chăm chú nhìn theo từng điệu bộ của nghệ sĩ, tai lắng nghe như muốn nuốt lấy từng lời ca, điệu hát.
Mỗi khi một khúc hát hay vang lên, khi một điệu bộ diễn xuất đạt đến độ cao trào của cảm xúc, lập tức từ phía dưới, những hồi trống chầu lại vang lên dồn dập, giòn giã. Đó là thứ âm thanh cộng hưởng, tán thưởng đầy kích thích. Và rồi, một "cơn mưa" thẻ thưởng từ tay người dân, từ tay những lão ngư tri điền được ném ào ạt lên sân khấu. Những chiếc thẻ tre, chiếc phong bì đỏ bay lả tả dưới chân người nghệ sĩ trong tiếng vỗ tay rền vang cả một góc biển.
Chứng kiến cảnh tượng ấy, sống mũi tôi bỗng cay xè. Ai bảo người dân quay lưng với nghệ thuật truyền thống? Ai bảo người trẻ hôm nay xa lánh tuồng cổ? Không, hoàn toàn không! Đâu đó trong sâu thẳm tâm hồn của người dân đất Quảng, tình yêu dành cho tiếng hát tuồng, cho câu hát rập rình vẫn luôn được ủ kín như một đốm than hồng dưới lớp tro tàn mưu sinh. Chỉ có điều, trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, khi sàn diễn tuồng ngày càng vắng bóng, họ không có cơ hội, không có điều kiện để thắp ngọn lửa ấy lên mà thôi.
Vĩ thanh - Đốm lửa ngàn năm cần gìn giữ
Đêm tuồng khép lại khi đã về khuya, các nghệ sĩ lại cởi bỏ xiêm y, lau đi lớp phấn son, trở về với dáng vẻ lam lũ của cuộc sống đời thường. Sân khấu tạm lại được dỡ bỏ, trả lại cho bờ biển vẻ yên bình vốn có. Nhưng âm vang của tiếng trống chầu và những ánh mắt rực lửa đêm ấy cứ bám lấy tâm trí tôi, dằn vặt và trăn trở.
Cuộc đối thoại giữa người nghệ sĩ khát khao cống hiến và những người dân làng chài đau đáu yêu nghệ thuật truyền thống tại Sơn trà là một minh chứng sống động cho sức sống mãnh liệt của tuồng. Tuồng không chết, và sẽ không bao giờ chết chừng nào còn những con người "điên dại" vì nghề và những khán giả biết "say" từng câu hát như thế.
Tuy nhiên, bài toán bảo tồn nghệ thuật truyền thống không thể chỉ dựa vào những đêm diễn nghĩa tình, những sân khấu dựng tạm bên bờ biển trong các dịp lễ hội. Nó đòi hỏi một cái nhìn chiến lược, một sự tiếp sức kịp thời từ các nhà quản lý văn hóa để những người nghệ sĩ của Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh và nhiều nhà hát khác trên cả nước có được một thánh đường đúng nghĩa, nơi ánh đèn không bao giờ tắt mỗi đêm.
Rời Sơn Trà, tiếng sóng biển vẫn vỗ đều vào bờ cát, nhưng trong tai tôi, dường như vẫn vang vọng tiếng trống chầu dồn dập. Tiếng trống ấy như một lời nhắc nhở, một lời khẩn cầu từ quá khứ vọng về tương lai: Xin đừng để tuồng cô độc giữa lòng thành phố hiện đại. Bởi mất đi tuồng, Đà Nẵng nói riêng và xứ Quảng nói chung của chúng ta sẽ đánh mất một phần linh hồn, một phần căn cước văn hóa bản địa của chính mảnh đất này./.
- Bài, ảnh: Thanh Hòa/Báo ảnh Việt Nam


























