Tin tức

Xá lợi Đức Phật ở Việt Nam - những di sản thiêng liêng

Mùa lễ Phật đản 2025 vừa qua, tôi đã có dịp hòa mình trong dòng người vô tận chiêm bái xá lợi Đức Phật – Bảo vật Quốc gia Ấn Độ - tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Trải nghiệm tâm linh ấy có lẽ sẽ chẳng bao giờ mờ phai – thiêng liêng và sâu lắng. Và rồi một câu hỏi lớn dần lên trong tôi: Xá lợi Đức Phật đã đến với đất Việt tự bao giờ?
    

Bài 1: Báu vật trong tòa tháp cổ

 

Tháng 12/2017, Chính phủ đã công nhận Hộp đựng xá lợi tìm thấy ở tháp Nhạn (Nghệ An) là Bảo vật quốc gia. Mới đây, được Cục Di sản Văn hóa (Bộ VH-TT&DL) cung cấp thông tin chi tiết, tôi đã có góc nhìn cơ bản về bảo vật quý giá này.

Xá lợi và hành trình lan tỏa tới đất Việt

“Xá lợi” (tiếng Phạn: śarīra, Pāli: sarīra) trong truyền thống Phật giáo là các phần còn lại sau khi hỏa táng thân thể của Đức Phật hoặc các vị A-la-hán, thường có dạng tinh thể cứng, bóng, nhỏ như hạt ngọc, đôi khi có màu sắc sặc sỡ. Trong Kinh tạng, xá lợi được xem là sự kết tinh công đức sau một đời tu hành thanh tịnh, là hiện thân vật chất của trí tuệ, đạo hạnh và từ bi.

     

Khi Đức Phật nhập Niết-bàn tại Kushinagar (Ấn Độ) vào khoảng năm 486 TCN, sau lễ trà-tỳ, xá lợi của Ngài được chia thành tám phần, phân phát cho tám quốc gia, mỗi nơi đều dựng tháp để phụng thờ. Về sau, những vị vua như A Dục (Ashoka, thế kỷ III TCN) đã khai mở các bảo tháp, lấy xá lợi chia ra, phân phát khắp lãnh thổ để xây dựng hơn 84.000 ngôi tháp thờ Phật - như một phương tiện để hoằng pháp, củng cố đạo đức xã hội và tăng cường sự hiện diện của Phật giáo. Từ đó, việc tôn thờ xá lợi trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Phật giáo khắp châu Á.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Phật giáo đã du nhập vào đất Việt từ đầu Công nguyên, thông qua các con đường giao thương biển và đất liền với Ấn Độ, Trung Hoa và các vương quốc Đông Nam Á. Trong quá trình truyền bá Phật giáo, xá lợi luôn giữ vai trò trung tâm như biểu tượng linh thiêng, là vật thiêng khởi nguồn cho việc dựng chùa, lập tháp, hình thành trung tâm tu học.

Lai lịch Hộp đựng xá lợi ở tháp Nhạn

Bảo tàng tỉnh Nghệ An hiện đang bảo quản hộp đựng xá lợi được phát hiện trong đợt khai quật di chỉ tháp Nhạn (xã Hồng Long, Nam Đàn, Nghệ An) do Viện Khảo cổ học kết hợp với Bảo tàng Nghệ Tĩnh khai quật năm 1985-1986. Thời điểm đó, tháp Nhạn chỉ còn là phế tích. Chân tháp hình vuông mỗi chiều khoảng 9,6x9m, dày 2m. Từ thông số này, các nhà nghiên cứu phán đoán tháp Nhạn có thể cao 20,5m, được chia thành nhiều tầng và là công trình kiến trúc Phật giáo lớn nhất xứ Hoan Châu xưa (xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu từ thời nhà Hậu Lê, tức Nghệ An và Hà Tĩnh hiện nay).

    

Ở chính giữa lòng tháp, cách mặt đất 1,8m là một cây gỗ rỗng ruột, chôn theo tư thế thẳng đứng, trong lòng có nhiều than tro của loại than củi đen, to và xốp. Lẫn trong đám than tro này là một hộp hình chữ nhật bằng đồng còn khá nguyên vẹn, bên ngoài đã gỉ sét. Ban đầu các nhà khảo cổ định để nguyên trạng hộp đồng để phục vụ công tác trưng bày của Bảo tàng, song một góc hộp đồng bị vỡ, hé lộ một hộp kim loại bên trong có màu vàng. Mở hộp ra, một phần đáy hộp là than tro do bị nước thấm vào nên quánh lại thành lớp màu đen rất mềm. Trên bề mặt lớp màu đen ấy, có hai nửa hình tròn màu trắng đục, trong và mỏng như vỏ trứng. Lúc này các nhà khảo cổ khẳng định đã tìm thấy một hộp xá lợi của Đức Phật. Hồ sơ đề nghị công nhận Bảo vật quốc gia lưu tại Cục Di sản Văn hóa cho thấy nhiều điều thú vị.

Tên hiện vật (tên gọi phổ thông): Hộp đựng xá lợi tháp Nhạn.

Tên khác (nếu có): Không.

Tên đơn vị - cá nhân lưu giữ hiện vật: Bảo tàng tỉnh Nghệ An.

Chất liệu chính: Kim loại màu vàng.

Kích thước: Dài: 8cm; Rộng: 5cm; Cao: 5,5cm.

Trọng lượng: 200gram.

Miêu tả: Hộp đựng xá lợi hình chữ nhật, được chia làm hai phần: nắp hộp và thân hộp.

Nắp hộp: Hình chữ nhật. Ở bốn rìa cạnh của nắp hơi lõm xuống, nhìn tựa như mái nhà. Xung quanh đỉnh nắp hộp có băng trang trí văn hoa cúc tròn 6 cánh nhỏ.

Thân hộp: Hình chữ nhật. Ở các mép cạnh được gò với kỹ thuật cao. Xung quanh thân hộp trang trí băng hoa sen cách điệu. Những bông sen cách điệu này được bố cục theo dải, tạo thành một khung chữ nhật. Giữa lòng các ô trống là mặt phẳng.

Nối liền giữa nắp hộp và thân hộp là một đường gờ mỏng được tán nhỏ, dài, rồi uốn theo gờ trong của thân hộp. Sau đó người thợ kim hoàn hàn nó vào thân tạo nên đường gờ mép, liên kết nắp với thân thành một hộp hoàn chỉnh.

    

Trong lòng hộp có khoảng 1/3 là than tro. Trên bề mặt lớp than tro có hai nửa hình tròn màu trắng đục, trong và mỏng như vỏ trứng gà. Đó chính là xá lợi. Theo sách “Pháp uyển châu lâm” do pháp sư Đạo Thế, tự Huyền Uẩn soạn vào đời Đường (Trung Quốc) chia xá lợi thành các loại: Xá lợi xương có màu trắng, xá lợi thịt có màu đỏ, xá lợi tóc có màu đen. Dựa theo cách phân biệt này thì hai viên xá lợi ở Tháp Nhạn thuộc xá lợi xương.

Hiện trạng: Nguyên, pa-tin dầy, xung quanh thân hộp có một số chỗ bị bong tróc.

Niên đại: Khoảng thế kỷ VII. Niên đại này xuất phát từ viên gạch xây tháp Nhạn có khắc dòng chữ “Trinh Quán lục niên”, là niên hiệu Trinh Quán năm thứ sáu (năm 632). Đây cũng là niên đại tháp Nhạn được xây dựng, nơi hộp xá lợi được tìm thấy trong quá trình khai quật năm 1985 – 1986.

Hiện vật gốc độc bản: Đây là hộp xá lợi có chất liệu, kiểu dáng, hoa văn lần đầu tiên tìm thấy ở Việt Nam. Hộp được chế tạo đơn chiếc. Kiểu hộp này rất gần gũi với hộp đựng xá lợi bằng sơn mài phát hiện ở Miến Điện có niên đại khoảng thế kỷ VIII – IX.

Hiện vật có hình thức độc đáo. Hộp đựng xá lợi không chỉ có giá trị văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh mà còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo. Hộp có hình chữ nhật, không giống với hình bảo tháp mà chúng ta thường thấy. Từng chi tiết hoa văn được người thợ chế tác một cách tinh xảo, tỉ mỉ. Phần nắp hộp được người thợ uốn cong như hình mui thuyền, gờ nắp có mái chườm ra khỏi thân hộp, quanh mặt nắp trang trí dải hoa 6 cánh nở, xòe đều, bố trí theo khung hình chữ nhật. Phần thân hộp trang trí băng hoa sen nối tiếp nhau, kết thành diềm quanh thân hộp. Điều đặc biệt là người thợ kim hoàn đã chế tác hộp đựng xá lợi từ phương pháp tán, dập, gò nguội.

Hiện vật có giá trị đặc biệt: Việc phát hiện hộp đựng xá lợi trong lòng Tháp Nhạn góp thêm tư liệu xác nhận rằng, xá lợi đã có mặt tại Việt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng từ khá sớm, qua đó hé mở tín hiệu được minh chứng bằng vật chất của Phật giáo buổi đầu ở xứ Nghệ.

Hồ sơ đề nghị công nhận Bảo vật Quốc gia phân tích:

“Nhờ việc phát hiện này, các nhà khoa học có thêm cứ liệu để nghiên cứu cách thức mai táng hoàn chỉnh của Phật giáo ở Việt Nam. Qua các tài liệu, chúng ta biết rằng, táng tục phổ biến của Phật giáo qua các thời kỳ chủ yếu là hỏa táng. Sau khi hỏa táng lấy lại một phần than tro của hài cốt làm xá lợi. Tuy nhiên, táng tục này với nghi lễ của nó như thế nào, còn quá mơ hồ qua ghi chép của sử liệu. Đã có nhiều ngôi tháp thời Lý - Trần được khai quật nhưng hầu hết các dấu tích trong lòng tháp đã bị phá hủy, do vậy chưa có đủ cứ liệu để nghiên cứu táng thức Phật giáo Việt Nam. Phải tới khi khai quật tháp Nhạn, chúng ta mới có đủ cứ liệu vật chất để hiểu thêm táng thức Phật giáo Việt Nam giai đoạn đầu, mà những ghi chép từ sử thành văn và tài liệu khảo cổ học trước đây chưa đáp ứng được.

Qua những nhận định của các nhà khảo cổ học, cách thức chôn xá lợi được miêu tả như sau: “Hộp đựng xá lợi được chôn trong một thân cây rỗng lòng, với cách thức chôn đứng. Phía trong lòng cây gỗ là than tro lẫn đất”. Một táng thức hoàn chỉnh như vậy rõ ràng có nhiều nét gần gũi với táng tục Việt Nam cổ truyền. Phải chăng đã có sự kết  hợp mang tính kế thừa giữa táng thức của cư dân thời Đông Sơn với quan tài thân cây khoét rỗng và táng thức hỏa táng - xá lợi của Phật giáo Ấn Độ qua trung gian Trung Hoa? Nếu đúng như vậy, thì đây là một hiện tượng Việt hóa điển hình yếu tố văn hóa du nhập từ bên ngoài vào nước ta ở 10 thế kỷ đầu Công nguyên. Đây cũng chính là một trong những cứ liệu chứng minh cho sức sống mãnh liệt của văn hóa Đông Sơn trong đời sống của cư dân Việt cổ trong 1.000 năm Bắc thuộc”.

Hồ sơ cũng nhận định, nguồn gốc của xá lợi ở tháp Nhạn được cho là bắt nguồn từ việc phân phát xá lợi của nhà Tùy.

Dòng chữ hơn 1.400 tuổi trên núi Tiên Du

Trên trang web của Báo Thanh Niên ngày 9/6 vừa qua, TS Phạm Lê Huy (Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội) cho rằng, từ năm 601 - 604, Tùy Văn đế Dương Kiên đã 3 lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại hơn 100 châu. Đây là một phần trong chính sách phục hưng Phật giáo của người sáng lập vương triều nhà Tùy, cũng là dịp xác lập cương giới. Điều này cũng ảnh hưởng tới Phật giáo Việt Nam, bởi trong số hơn 100 châu huyện được nhà Tùy lựa chọn để phân phát xá lợi, có cả các châu Giao, Phong, Trường, Hoan, Ái... ở Việt Nam, vốn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền nhà Tiền Lý.

TS Nguyễn Văn Anh - giảng viên bộ môn Khảo cổ học, khoa Lịch sử, Phó giám đốc phụ trách Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội - chia sẻ nhiều thông tin bất ngờ trong cuộc trả lời phỏng vấn Báo VietNamNet ngày 03/6: “Kinh Kim quang minh nói: “Xá lợi là thứ được hun đúc bằng sự tu hành giới, định, tuệ; là vật rất khó có được, đó là ruộng phúc trên hết”. Việc được trực tiếp chiêm bái xá lợi Phật sẽ nhanh chóng đạt được sự giác ngộ. Cũng chính bởi vậy, những nơi an trí xá lợi Phật được coi là nơi lưu giữ thánh tích, nơi thánh địa, nơi mà Phật tử mong ước trong cuộc đời ít nhất được một lần hành hương tới.

Khi được hỏi: Ở Việt Nam có xá lợi của đức Phật Thích Ca Mâu Ni không? TS Nguyễn Vân Anh nói: Câu trả lời là có. Đã có bằng chứng cho thấy ít nhất 2 nơi ở Việt Nam từng an trí xá lợi Phật, đó là Tiên Du (Bắc Ninh) và Nam Đàn (Nghệ An). Tại Thuận Thành, năm 2004, khi đào đất làm gạch người dân đã phát hiện hòm bằng đá đựng xá lợi Phật. Minh văn khắc ở mặt trong của nắp hòm cho biết đó là hòm chứa xá lợi Phật được vua Tùy Văn Đế cho rước và an trí trong bảo tháp trên núi Tiên Du ở Giao Châu, năm Nhân Thọ thứ nhất (tức năm 601). Núi Tiên Du nay thuộc huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Mặc dù trong hòm không còn xá lợi nhưng đã có minh chứng rõ ràng về việc xá lợi Phật từng được an trí tại khu vực Bắc Ninh ngày nay. Các nhà nghiên cứu cho rằng, xá lợi vốn được an trí trong bảo tháp trên núi Tiên Du, sau đó được di chuyển về khu vực chùa Dâu thuộc Thuận Thành ngày nay.

Nếu xá lợi Đức Phật được chuyển đến núi Tiên Du từ đời nhà Tùy năm 601, tức đến nay đã hơn 1.400 năm, thì còn sớm hơn cả chuyến đi Tây Trúc (Ấn Độ cổ đại) thỉnh kinh của cao tăng Đường Tam Tạng (Trần Huyền Trang – Đường Tăng đời Đường) năm 627, tức tức ¼ thế kỷ.

Được biết, tuy xá lợi trong hòm đá ở núi Tiên Du không còn, nhưng minh văn vẫn được bảo quản tốt, có giá trị to lớn với giới nghiên cứu sử học và khảo cổ Việt Nam.

Việc phát hiện hộp đựng xá lợi ở tháp Nhạn và văn khắc núi Tiên Du là minh chứng vật chất rõ ràng nhất cho sự hiện diện sớm và tôn nghiêm của Phật giáo tại Việt Nam. Không chỉ là hiện vật thiêng liêng, xá lợi còn là biểu tượng của tâm linh và ánh sáng từ bi đã hòa nhập rất sâu vào lịch sử dân tộc. Dù trong lòng đất hay giữa lòng người, xá lợi Đức Phật vẫn luôn là linh tượng của sự thanh tịnh, tỉnh thức và tình thương vô biên của vĩ nhân vĩ đại nhất lịch sử nhân loại.

Bài 2: Ba viên ngọc xá lợi của Đức Phật được trao tặng năm 1953

Mới đây, tôi hữu duyên được đọc cuốn "Lịch sử Chùa Xá Lợi" của tác giả Thích Đồng Bổn, do NXB Tôn giáo ấn hành năm 2003. Cuốn sách không dày, nhưng hàm chứa nhiều thông tin quý báu về xá lợi Đức Phật ở Việt Nam.

Những viên ngọc xá lợi từ vùng đất thiêng Sri-Lanka

Theo đó, năm 1952, phái đoàn Phật giáo Tích Lan (Sri-Lanka) đi dự phiên họp lần thứ II của Hội Phật giáo thế giới (World Fellowship of Buddhists) tổ chức tại Tokyo - Nhật Bản, có phụng thỉnh theo một viên ngọc xá lợi của Đức Phật để tặng Phật giáo Phù Tang. Phái đoàn đáp tàu La Marseillaise ghé bến Sài Gòn 24 giờ. Tiến sĩ Malalasekeka, Chủ tịch Hội Phật giáo Thế giới, dẫn diện cho Hội Phật học Nam Việt tổ chức cung nghinh xá lợi lên bờ cho công chúng chiêm bái trong khoảng thời gian tàu cập bến.

Được sự ủy nhiệm của Thượng tọa Tố Liên, đại diện của Hội Phật giáo Thế giới tại Việt Nam và các đoàn thể trong Tổng hội Phật giáo Việt Nam ủy nhiệm, Hội Phật học Nam Việt đứng ra tổ chức một Ủy ban Liên phái gồm 11 đoàn thể cung nghinh xá lợi, số lượng tham dự lên đến nửa triệu người (phỏng ước của báo chí), khiến nhà cầm quyền Việt - Pháp thời bấy giờ phải kinh ngạc trước tiềm lực tinh thần của Phật giáo.

    

Xá lợi được cung nghinh trên một kiệu hoa kết hình bạch tượng, từ bến Nhà Rồng của hãng Messageries Maritimes về “nhà kiếng” (nay là trụ sở Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) được trang trí làm nơi thờ tạm để lấy chỗ rộng rãi cho công chúng đến chiêm bái. Từ 11 giờ trưa đến 3 giờ sáng hôm sau, thiện nam tín nữ nối gót nhau đến dâng hương đảnh lễ không lúc nào dứt. Đến 5 giờ sáng, 11 tập đoàn họp trở lại để phụng thỉnh xá lợi xuống tàu đi Nhật Bản.

Với sự tha thiết của Phật giáo đồ Việt Nam như thế, sang năm sau (1953), Đại đức Narada Mahathera, tọa chủ chùa Vajirarama ở Tích Lan sang Việt Nam, phụng thỉnh theo 3 viên ngọc xá lợi và 3 cây Bồ đề con, để dâng cúng ở 3 nơi: Phật giáo Nguyên thủy (chùa Kỳ Viên), Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Cao Miên (theo lời tuyên bố của Đại đức lúc đến phi trường Tân Sơn Nhất). Về đến chùa Kỳ Viên, Đại đức lập lại lời tuyên bố ban đầu và dự định vào sáng hôm sau sẽ trao cho đạo hữu Chánh Trí – Mai Thọ Truyền phần xá lợi và cây bồ đề dành cho Phật giáo Bắc tông.

Nhưng ngay đêm hôm ấy đã xảy ra sự tranh chấp về việc đoàn thể Phật giáo nào có đủ tư cách đại diện cho Phật giáo Bắc tông Việt Nam được phụng thờ ngọc xá lợi. Đạo hữu Chánh Trí phải giải thích nhiều mới bênh vực được tư thế của Tổng hội Phật giáo Việt Nam, là đoàn thể lớn nhất thời bấy giờ, gồm những Tăng già và cư sĩ đại diện 3 miền đất nước. Do chưa nắm rõ tình hình nội bộ Phật giáo Việt Nam và để tránh sự dị nghị, sau khi thảo luận với đạo hữu Chánh Trí, Đại đức Narada đã quyết định trao quyền này cho bà Đoan Huy - Hoàng thái hậu (thường gọi là đức Từ Cung, thân mẫu cựu hoàng Bảo Đại - lúc đó đang làm Quốc trưởng chính quyền vùng Pháp tái chiếm) để bà Thái hậu tùy ý giao lại cho đoàn thể Phật giáo nào mà bà xét thấy đáng phụng thờ di bảo của Đức Thế Tôn.

Sau cuộc phân chia ngọc xá lợi, phần của Phật giáo Bắc tông được Hội Phật học cùng các đoàn thể bạn hợp sức cung nghinh ra nhà kiếng cho công chúng chiêm bái 3 ngày 3 đêm và ngay tại đây, Đại đức Narada làm lễ kính trao cho ông Ưng An, khâm sai của Hoàng thái hậu. Ba ngày chiêm bái đã xong, một phái đoàn gồm có Đại đức Narada, Đại đức Bửu Chơn, ông Ưng An, ông Lê Văn Hoạch - Phó Thủ tướng kiêm tổng trưởng thông tin của chính quyền Bảo Đại, ông Nguyễn Văn Hiểu - Hội trưởng Hội Phật giáo Nguyên thủy và đạo hữu Chánh Trí, phụng thỉnh tháp vàng (do gia quyến ông Võ Văn Trọng ở Nam Vang cúng) lên Ban Mê Thuột. Tại tư dinh, bà Đoan Huy - Hoàng thái hậu khăn áo chỉnh tề trong cảnh trầm hương nghi ngút quỳ tiếp ngọc báu.


Gần hai năm sau, bà Từ Cung quyết định giao cho Tổng hội Phật giáo Việt Nam trách nhiệm phụng thờ ngọc xá lợi. Tổng hội xét công lao của Hội Phật học Nam Việt, đã ủy nhiệm cho Hội nhiệm vụ thờ phụng, lúc ấy trụ sở của hội còn đặt tại chùa Phước Hòa ở khu Bàn Cờ, cũ kỹ và chật hẹp.

Đến năm 1955, Hội Phật học Nam Việt quyết định xây dựng chùa mới tại một vị trí khác, để có nơi xứng đáng phụng thờ di bảo Đức Thế Tôn và đủ chỗ cho thiện tín đến lễ Phật chiêm bái xá lợi. Hội đã được tòa đại biểu chính phủ tại Nam Việt ký giấy cho phép Hội mở cuộc lạc quyên với hạn mức số tiền tối đa là 5 triệu đồng để dùng vào việc kiến trúc. Cuộc lạc quyên được bắt đầu từ ngày 14.01.1956 và khóa sổ vào ngày 27.12.1956, kết quả được hơn 3 triệu đồng. Theo họa đồ xây dựng chùa, công trình được dự toán kinh phí khoảng 7 triệu đồng bạc thời bấy giờ.

Những di sản quý báu của chùa Xá Lợi

Chùa Xá Lợi được khởi công xây dựng vào ngày 5.8.1956, trên thửa đất diện tích 2.500 m2 được câu lạc bộ Đông Dương nhượng lại với giá tượng trưng là một đồng bạc Việt Nam. Khu đất tọa lạc tại góc đường Lê Văn Thạnh (nay là Sư Thiện Chiếu) và Bà Huyện Thanh Quan. Chùa được hoàn thành ngày 2.5.1958, được xây dựng với mục đích tôn thờ xá lợi Phật tổ và để làm hội quán chính thức của Hội Phật học Nam Việt. Trong quá trình xây dựng, dân chúng quen gọi tắt là chùa Xá Lợi. Đến lúc khánh thành, Hội Phật học đến thỉnh ý Hòa thượng Khánh Anh, Pháp chủ giáo hội Tăng già Nam Việt và cũng là Chứng minh Đạo sư của Hội Phật học Nam Việt để xin đặt tên chùa, Hòa thượng dạy: “Còn đặt tên gì nữa! Công chúng đã gọi là chùa Xá Lợi thì lấy tên ấy cho hợp lòng người”. Đó là duyên cớ có tên là chùa Xá Lợi.

Phật bảo: Chùa có một tháp bằng vàng, trong đựng báu vật là ngọc xá lợi Phật tổ, do ngài Narada Mahathera, một danh Tăng Phật giáo Tích Lan đã mang sang tặng để làm chứng tích Phật bảo thường trụ tại nơi quốc độ Việt Nam.

Pháp bảo: Có một pho kinh đối diệp cổ chép bằng chữ Pali trên lá Ô bôi (lá Muôn) cách nay trên 1.000 năm, dài 45 cm, ngang 6 cm, hai đầu có dùi lỗ để xỏ chỉ xâu lại, bìa bằng gỗ sơn son thếp vàng hoa văn cầu kỳ, được bọc trong một khăn lụa ngũ sắc. Bộ kinh này do Giáo hội Tăng già Tích Lan tặng cho ngài Thích Quảng Liên sau khi du học hơn 5 năm tại xứ này, khi về nước Ngài tặng lại cho Hội Phật học Nam Việt để làm chứng tích Pháp bảo thường trụ tại quốc độ này. Bộ kinh chép lại lời ngọc Đức Thế Tôn khi Ngài bắt đầu chuyển pháp luân tại thành phố Ba La Nai (Bénarès) cho năm anh em Kiều Trần Như nghe. Pháp tạng này được làm lễ cung thỉnh về chùa Xá Lợi vào ngày 16.06.1957.

Tăng bảo: Có một cây bồ đề được chiết cành từ cây gốc ở Tích Lan, do Thái tử con vua A Dục (Asoka) đem từ nơi Đức Phật thành đạo sang trồng khi đến truyền bá đạo Phật ở xứ này. Cây bồ đề cũng do ngài Narada Mahathera mang sang tặng để làm chứng tích Tăng bảo thường trụ nơi thế gian. Cây bồ đề được hạ thổ nơi sân chùa bên hông chánh điện, vào ngày vía Đức A Di Đà (17 tháng 11 năm Mậu Tuất - 1958).

    

Chùa có một tháp bằng bạc trong đựng viên xá lợi của đức Hoạt Phật Chương Gia Đồ do Pháp sư Diễn Bồi từ Đài Loan (Trung Quốc) mang sang tặng vào ngày 11.12.1960. Đức Hoạt Phật (Phật sống) người gốc Thanh Hải Mông Cổ thường được người Trung Hoa biết dưới danh hiệu Thập Cửu Thế Chương Gia Đại sư. Theo lịch sử, Ngài đã tái sinh 3 lần ở Ấn Độ, 9 lần ở Tây Tạng và 7 lần ở Thanh Hải, cộng 19 đời, mỗi đời tái sinh được xác nhận bởi những bằng chứng hiển hiện như Đạt Lai Lạt Ma ở Tây Tạng. Ngài sinh năm 1890 và xả báo thân ngày 04.03.1958 tại Đài Bắc (Trung Quốc), 11 ngày sau làm lễ trà tỳ được trên một ngàn viên xá lợi.

Tại tháp chuông 7 tầng, cao 32 mét, tầng cao nhất là một cổ lầu có treo một đại hồng chung cân nặng 2 tấn, đường kính 12 mét, cao 1,6 mét. Quả chuông được rót đồng tại phường đúc lang Dương Biều - Huế năm 1961, theo mẫu của chuông chùa Linh Mụ - Huế. Tiếng ngân của chuông rất nổi tiếng và từng được nhiều thế hệ biết đến trong thời đấu tranh qua bài vọng cổ “Tiếng chuông chùa Xá Lợi” do soạn giả Viễn Châu sáng tác ca ngợi.

Chùa còn có bức hoành có 4 chữ Hán đại tự: “Đông Thùy Pháp Vũ” do chính tay Từ Hy Thái Hậu (đời Mãn Thanh - Trung Hoa) viết trên gấm, có đóng dấu ấn triện. Tấm hoành này do ông Bùi Văn Thương, nguyên đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Tokyo đã mua được trên đất Nhật, gởi về biếu cho chùa Xá Lợi vào tháng 3 năm 1963. Chung quanh chính điện ở tầng lầu được trang trí bằng một bộ tranh lớn bằng sơn bột màu gắn trên tường. Bộ tranh gồm 15 bức khổ lớn, được giáo sư Nguyễn Văn Long ở trường Mỹ thuật Gia Định thực hiện năm 1958, mô tả lịch sử Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh cho đến khi thành đạo - nhập Niết bàn. Tranh vẽ rất sinh động trông như đắp nổi, đây là một bộ tác phẩm hoành tráng có giá trị nghệ thuật về phong cách họa tiết. Bên cạnh đó là thư viện lưu trữ rất nhiều tư liệu quý, có các tạng kinh điển Phật giáo và hàng ngàn đầu sách bằng những ngôn ngữ Việt, Hoa, Anh, Pháp, Nhật... trở thành kho báu Phật học nước nhà.

Trường tồn trong sóng gió

Đọc lịch sử chùa Xá Lợi, tôi nhận thấy rằng, mái chùa quả thực là nơi lưu giữ nhiều điều thiêng liêng cũng như phải chịu đựng nhiều cơn sóng gió. Xin đơn cử:

Ngày 11.6.1963, một cuộc tuần hành xuất phát từ chùa Phật Bửu đi đến ngã tư Lê Văn Duyệt Đình Phùng và dừng lại đây. Hòa thượng Thích Quảng Đức đã thắp lên ngọn đuốc tự thiêu thân, cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn và chính quyền nhà Ngô thức tỉnh. Nhục thân của Ngài được đưa trở về chùa Xá Lợi quàn một tuần trước khi đưa đi hỏa táng, còn lại quả tim bất diệt của Bồ Tát Thích Quảng Đức được đưa về thờ phụng tại chùa Xá Lợi trong suốt cuộc đấu tranh cho đến lúc thành công.

Ngày 5.8.1963, lễ cầu siêu thánh tử đạo Thích Nguyên Hương được tổ chức tại chùa Xá Lợi, với số lượng Tăng ni và các đoàn thể Phật tử tham dự lên đến hai mươi ngàn người.


Ngày 12.8.1963, nữ sinh Mai Tuyết An đến chùa Xá Lợi chặt bàn tay trái của mình để cảnh cáo chính quyền. Trước khi chặt tay cô đã viết 3 lá thư: Một cho chư Tăng và Phật giáo đồ, một cho Tổng thống Diệm và một cho bà Ngô Đình Nhu.

Ngày 18.8.1963, lễ cầu siêu cho tất cả những vị thiêu thân vì bảo vệ Phật giáo diễn ra tại chùa Xá Lợi, với trên ba mươi ngàn người dự. Sau đó là một cuộc tuyệt thực tại chỗ của mười ngàn người, chủ lực là các đoàn thể sinh viên Phật tử, học sinh Phật tử và đoàn Thanh niên bảo vệ Phật giáo.

Ngày 20.8.1963, chính quyền ra đòn ác liệt cuối cùng nhằm triệt tiêu Phật giáo trong trận tấn công vào chùa Xá Lợi vào lúc nửa đêm rạng sáng ngày 21.8. Khoảng 200 người thuộc lực lượng đặt biệt đã tấn công vào chùa trong sự chống cự quyết liệt của Tăng ni cố thủ bảo vệ những vị đạo cao đức trọng của Ủy ban Liên phái. Chúng lật đổ bàn thờ Bồ Tát Thích Quảng Đức, đập phá tất cả và tấn công lên chính điện. Bị ngăn chặn bởi chướng ngại vật, chúng đã liệng nhiều lựu đạn cay, đánh đập dã man Tăng chúng. Sau một giờ ngăn cản, nhiều vị bất tỉnh, chư Tăng kiệt sức không còn đủ sức chống cự, chúng phá cửa lục soát các tăng phòng bắt còng tay chư tôn đức và tất cả Tăng chúng. Trong đêm đẫm máu ấy có khoảng 250 vị Tăng ni đã bị bắt. Chùa Xá Lợi bị tàn phá tan hoang. Tượng Phật Thích Ca tại chính điện cũng bị xâm phạm. Cuộc tấn công này xảy ra đồng thời và toàn diện khắp nơi, có hơn 1.400 Tăng ni đã bị bắt trong đêm ấy. Sáng hôm sau, chính quyền ban bố thiết quân luật và vu cáo cho giới Phật giáo nổi loạn, Tăng ni bị bắt là phần tử phản động. Sự kiện này đã dấy lên một làn sóng phản đối quyết liệt của tất cả các tầng lớp trong xã hội, đã biến thành cuộc phản kháng mạnh mẽ, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm trong cuộc chính biến ngày 01.11.1963, chấm dứt một chế độ mất lòng dân, coi thường đạo lý…

Sau những tháng năm sóng gió, chùa Xá Lợi vẫn vững vàng. Tên chùa Xá Lợi không chỉ là tên gọi, mà là tinh thần, là cốt tủy, là nhịp đập của tín tâm – một biểu tượng cho đạo lý, niềm tin và sức sống của Phật giáo Việt Nam hiện đại. Ngày nay, chùa Xá Lợi không chỉ là một địa chỉ lịch sử, một thắng cảnh văn hóa của thành phố, mà còn là niềm tự hào của những người con Phật khắp năm châu. Bóng dáng ngôi chùa Xá Lợi, nơi tôn trí ngọc xá lợi Đức Phật, đã sánh cùng bao thắng cảnh khác làm nên vẻ đẹp văn hóa dân tộc của quê hương Việt Nam.

Bài cuối: Cần số hóa để lan tỏa năng lượng từ bi

Được sự ủy quyền của Hòa thượng Thích Thọ Lạc - Trưởng ban Văn hóa Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Trung ương GHPGVN), thầy Thích Minh Thuần - Chánh thư ký Ban Văn hoá Trung ương GHPGVN - đã có cuộc trò chuyện với chúng tôi xoay quanh chủ đề: “Hiện Việt Nam có bao nhiêu xá lợi Đức Phật?”

Công đức tu hành - giá trị vĩnh cửu

+ Thưa thầy Thích Minh Thuần, khái niệm "xá lợi Phật" trong đạo Phật được hiểu như thế nào về mặt giáo lý và văn hóa?

Thầy Thích Minh Thuần: Xá lợi Phật (Sanskrit: śarīra, Pali: sarīra-dhātu) mang ý nghĩa sâu sắc cả về giáo lý lẫn văn hóa, phản ánh niềm tôn kính đối với Đức Phật và sự kết nối tâm linh giữa thế giới hữu hình và vô hình.

Về mặt giáo lý, đây là chứng tích của giác ngộ. Xá lợi là biểu tượng cụ thể của sự tu chứng viên mãn, thanh tịnh và giải thoát. Việc chiêm bái xá lợi giúp người Phật tử phát khởi tín tâm, khơi dậy chí nguyện tu hành. Xá lợi tuy là vật chất nhưng chính là minh chứng cho tinh thần vô ngã, không phải thân thể mà công đức tu hành mới là giá trị vĩnh cửu.

Về mặt văn hóa, xá lợi là biểu tượng thiêng liêng. Trong văn hóa Phật giáo, xá lợi được thờ phụng trong bảo tháp, chùa chiền, bảo điện như là hiện thân linh thiêng của Đức Phật, là trung tâm tâm linh của cộng đồng. Các lễ rước xá lợi, tôn trí xá lợi, chiêm bái xá lợi... được tổ chức trọng thể ở nhiều quốc gia Phật giáo như Ấn Độ, Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam... Những nghi lễ này là dịp để cộng đồng Phật tử thể hiện lòng thành kính, báo ân và tiếp nhận năng lượng tâm linh. Xá lợi không chỉ là vật thờ mà còn là cầu nối lịch sử, giúp người đời sau tưởng nhớ Đức Phật và các bậc giác ngộ, từ đó noi theo tấm gương đạo hạnh. Đã có nhiều truyền thuyết dân gian kể về xá lợi phát quang, xá lợi tự sinh, xá lợi không cháy trong lửa… như một phép màu gắn với sự nhiệm mầu của Đức Phật, phản ánh sự ngưỡng mộ và lòng tin sâu sắc của quần chúng đối với đạo Phật.

+ Xá lợi của Đức Phật có vai trò và ý nghĩa như thế nào trong đời sống tâm linh và tín ngưỡng của người dân Việt Nam, thưa thầy?

Thầy Thích Minh Thuần: Khi xá lợi Phật được cung thỉnh từ Ấn Độ, Myanmar, Sri Lanka… về Việt Nam, các sự kiện ấy không chỉ mang tính tâm linh mà còn là giao lưu văn hóa - tôn giáo quốc tế, khẳng định vị thế của Phật giáo Việt Nam trong cộng đồng Phật giáo thế giới. Do đó, quá trình này phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt về ngoại giao, pháp lý. Giáo hội không chỉ tiếp nhận xá lợi như một bảo vật mà còn xem đó là cơ hội truyền bá Chính pháp, khơi dậy lòng tin, giáo hóa quần chúng theo tinh thần hòa bình, từ bi, trí tuệ của Đức Phật. Việc long trọng cung rước xá lợi Đức Phật qua 9 tỉnh thành nhân dịp Vesak 2025 vừa qua là một minh chứng cho sự phát triển chính thức, tôn nghiêm và hội nhập quốc tế của Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới.

    

Đối với đời sống tâm linh của người dân Việt Nam, xá lợi Đức Phật có ý nghĩa hết sức to lớn, là biểu tượng của Phật thân và Phật lực, là hiện thân thiêng liêng của Ngài. Khi chiêm bái xá lợi, người dân cảm nhận như đang trực tiếp đỉnh lễ Đức Phật, tiếp xúc với năng lượng giác ngộ và từ bi. Xá lợi mang đến cảm giác an lành, hộ trì, khơi dậy đức tin và nhắc nhở về con đường tu tập. Việc chiêm bái xá lợi được xem là một pháp duyên thù thắng. Người dân tin rằng khi thành tâm lễ bái xá lợi, họ có thể gieo trồng phúc lành, chuyển hóa nghiệp chướng và phát khởi tâm Bồ đề. Nhiều người đã phát nguyện ăn chay, giữ giới, làm việc thiện sau khi tham dự các lễ rước hoặc tôn trí xá lợi. Trong dòng chảy đời sống hiện đại vô vàn biến động, xá lợi khơi dậy niềm tin vào sự giác ngộ, trở thành một biểu tượng vững chãi và tĩnh lặng, giúp con người quay về với giá trị nội tâm, tỉnh thức và hướng thiện.

Tại nhiều địa phương, khi xá lợi Đức Phật được tôn trí trong chùa, nơi đó gần như lập tức trở thành địa điểm linh thiêng, thu hút đông đảo Phật tử và người dân về chiêm bái, đỉnh lễ. Người dân tin rằng nơi nào có xá lợi Đức Phật ngự sẽ có sự bảo hộ và may lành, tiêu tai giải nạn, giúp mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.

+ Hiện tại, theo thống kê của Ban Văn hóa Trung ương GHPGVN hoặc các nguồn chính thống, Việt Nam có bao nhiêu xá lợi Đức Phật được tôn trí?

Thầy Thích Minh Thuần: Hiện nay xá lợi của Đức Phật được tôn trí tại Chùa Quán Sứ - Hà Nội, Chùa Viên Đình - Hà Nội, Chùa Phật Tích - Bắc Ninh, Chùa Ba Vàng - Quảng Ninh, Chùa Tam Chúc - Ninh Bình, Chùa Bái Đính - Ninh Bình, Núi Bà Đen - Tây Ninh…

+ Thầy đánh giá như thế nào về công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa - tâm linh của xá lợi Đức Phật tại Việt Nam hiện nay? Thầy có thể chia sẻ tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc nào cần được tuân thủ khi thiết kế không gian tôn trí xá lợi Đức Phật?

Thầy Thích Minh Thuần: Về bảo quản vật lý, các xá lợi Đức Phật (ngọc xá lợi, tro xá lợi…) thường được đặt trong bảo tháp, đặt trong không gian có kiểm soát về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Về bảo tồn giá trị tâm linh, thường tổ chức các nghi lễ tụng niệm, cúng dàng xá lợi, thiền tọa, giáo dục Phật pháp, giúp Phật tử và cộng đồng trân quý ý nghĩa thực sự của xá lợi.

Việc tôn trí xá lợi không đơn thuần riêng về kiến trúc mà là một nghi lễ thiêng, gắn với nhiều chuẩn mực tôn giáo, mỹ học, văn hóa và bảo tồn. Nguyên tắc tâm linh, giáo lý: Tối thượng, trang nghiêm, thanh tịnh; Không gian tôn trí phải đặt ở vị trí cao quý nhất trong chùa, thể hiện sự tôn kính tối thượng đối với Phật thân. Không có yếu tố cầu tài, buôn thần bán thánh: Không gian xá lợi không được thương mại hóa, mê tín hóa, phải dẫn người dân về với niềm tin đúng chính pháp. Hài hòa giáo lý, nghệ thuật, thiền quán: Thiết kế phải truyền cảm hứng thanh tịnh, an lạc, tạo điều kiện thuận lợi cho hành giả tĩnh tâm và chiêm nghiệm. Xá lợi được bảo vệ bởi kính cường lực, khóa bảo mật, giám sát 24/7, trong khu vực cách ly để hạn chế tiếp xúc trực tiếp. Xá lợi được đựng trong bảo tháp pha lê hoặc tháp vàng, dưới chân tháp có thể đặt hoa sen hoặc bát bảo tượng trưng cho tám công đức của Đức Phật. Xung quanh được chiếu sáng bởi ánh sáng dịu, ưu tiên ánh sáng tự nhiên kết hợp đèn led trắng hoặc vàng ấm. Không gian yên tĩnh, thông thoáng, có ghế thiền, bồ đoàn, hương trầm; có biển thuyết minh song ngữ (Việt - Anh hoặc thêm Hán, Pali) trình bày ngắn gọn về nguồn gốc xá lợi, ý nghĩa giáo lý và nghi lễ chiêm bái.


Việc bảo tồn và phát huy giá trị xá lợi Đức Phật tại Việt Nam hiện nay đã đạt được những thành tựu nhất định về vật thể, tinh thần, cộng đồng. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần tuân thủ nghiêm các nguyên tắc về giáo lý, bảo tồn, kiến trúc tâm linh, đồng thời giáo dục cộng đồng nhận thức đúng về xá lợi: biểu tượng cao quý của giác ngộ, từ bi và trí tuệ.

Số hóa là việc làm cấp thiết

+ Giáo hội có nên tiến tới xây dựng hệ thống nhận diện hoặc số hóa thông tin về các xá lợi Đức Phật trên toàn quốc để giúp người dân và Phật tử dễ dàng tra cứu, hành hương không, thưa thầy?

Thầy Thích Minh Thuần: Việc xây dựng một hệ thống nhận diện, số hóa xá lợi Đức Phật trên toàn quốc là việc cần thiết, khả thi và cấp thiết trong bối cảnh Phật  giáo bước vào thời đại công nghệ và hội nhập toàn cầu. Điều này không chỉ giúp người dân dễ dàng hành hương mà còn góp phần bảo vệ di sản tâm linh, nâng cao tín tâm và khẳng định vai trò dẫn dắt của Giáo hội trong đời sống tâm linh hiện đại.

+ Thưa thầy, nhận thức của đại chúng về xá lợi Đức Phật hiện nay còn gặp những điểm hạn chế nào?

Thầy Thích Minh Thuần: Nhận thức của đại chúng dù ngày càng được nâng cao nhờ các hoạt động Phật sự quy mô lớn như Đại lễ Vesak, rước xá lợi quốc tế… nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế đáng lưu ý. Những hạn chế này chủ yếu đến từ sự thiếu hiểu biết giáo lý, ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian và sự phổ biến chưa đồng đều của tri thức Phật học trong cộng đồng. Dưới đây là các điểm hạn chế chính:

Nhận thức mơ hồ, thiếu phân biệt giữa tâm linh và mê tín

Xem xá lợi là “bùa may” hoặc vật cầu tài: Nhiều người xem xá lợi như một vật mang lại tài lộc, sức khỏe, trúng số, trừ tà, v.v... từ đó dẫn đến thái độ thần thánh hóa xá lợi, thậm chí đồn thổi những câu chuyện huyễn hoặc, không đúng giáo lý Phật giáo.

Lệ thuộc vào hình tướng, thiếu tu tập nội tâm: Nhiều người chỉ dừng lại ở việc chiêm bái bên ngoài, không hiểu rằng xá lợi là kết quả của tu hành giới - định - tuệ, là bài học hướng tới giác ngộ chứ không phải để cầu xin.

Thiếu hiểu biết về nguồn gốc, ý nghĩa giáo lý của xá lợi

Không phân biệt được các loại xá lợi: Không rõ đâu là xá lợi thân, xá lợi pháp, xá lợi tâm linh, nên dễ bị nhầm lẫn với các di vật khác, hoặc coi trọng vật thể hơn tinh thần.

Không biết rõ nguồn gốc xá lợi: Một số trường hợp xá lợi được tôn trí mà không có thông tin công khai về nguồn gốc, giấy tờ chứng nhận, nghi lễ tôn trí… khiến người dân dễ bị hiểu sai hoặc nghi ngờ.

Dễ bị dẫn dắt bởi các hoạt động thiếu kiểm soát

Tình trạng lạm dụng xá lợi để kinh doanh: Có nơi sử dụng danh nghĩa “có xá lợi” để bán vé vào cửa, kinh doanh vật phẩm phong thủy, thỉnh xá lợi giả gây phản cảm và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân. Xá lợi đôi khi bị lôi kéo vào các hoạt động tín ngưỡng trá hình, mang tính vụ lợi, không do Giáo hội quản lý.

Truyền thông sai lệch, lan truyền tin giả: Trên mạng xã hội có nhiều bài viết, video giật tít về “xá lợi phát sáng”, “xá lợi tự di chuyển”, “ai chiêm bái sẽ khỏi bệnh”… thiếu kiểm chứng, gây hiểu lầm sâu sắc về bản chất của Phật pháp.

Chưa được giáo dục bài bản về xá lợi trong hệ thống Phật học và văn hóa đại chúng

Chưa có tài liệu phổ thông chính thống: Giáo lý về xá lợi còn nằm trong kinh văn chuyên sâu, ít có tài liệu dành cho đại chúng (sách mỏng, sách tranh, phim tài liệu đơn giản…).

Thiếu sự phổ cập trong trường học, văn hóa công cộng: Không gian triển lãm, bảo tàng hoặc chương trình truyền hình về xá lợi, di sản tâm linh vẫn chưa được đầu tư tương xứng.

Như vậy, nhận thức của đại chúng về xá lợi Đức Phật hiện nay đang vừa tăng trưởng về mặt số lượng người quan tâm, nhưng còn yếu về chiều sâu hiểu biết giáo lý. Hệ quả là một mặt, niềm tin và hành hương tăng cao, nhưng mặt khác dễ dẫn tới tà tín, sùng hình tướng, lệch đạo lý nếu không có sự định hướng kịp thời.

+ Vai trò của truyền thông Phật giáo và giáo dục văn hóa tâm linh trong việc giúp người dân hiểu đúng, hành trì đúng với xá lợi là gì, thưa thầy?

Thầy Thích Minh Thuần: Truyền thông Phật giáo giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc giúp người dân hiểu đúng, tin đúng và hành trì đúng đối với xá lợi Đức Phật, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi Phật giáo ngày càng hội nhập với đời sống xã hội, còn niềm tin tâm linh thì rất dễ bị lệch hướng nếu thiếu hiểu biết nền tảng.

Truyền thông cần định hướng nhận thức đúng chính pháp, làm rõ giá trị đích thực của xá lợi. Minh bạch thông tin, chống giả mạo, chống lợi dụng: Truyền thông là công cụ hữu hiệu để xác minh thông tin nguồn gốc xá lợi, công bố địa điểm tôn trí chính thức do Giáo hội chứng thực, cảnh báo các hoạt động mượn danh xá lợi để trục lợi hay truyền bá sai lệch. Đồng thời truyền cảm hứng tâm linh chân chính: Các chương trình phim tư liệu, phóng sự, bài viết, clip giảng pháp, nếu được đầu tư chất lượng sẽ giúp đại chúng cảm nhận được ý nghĩa thiêng liêng, giá trị nội tâm của xá lợi, những câu chuyện truyền cảm hứng từ hành trạng của Đức Phật và chư Thánh Tăng. Đồng thời, truyền thông còn giúp kết nối cộng đồng hành hương, chiêm bái đúng nghĩa, giúp quảng bá các hoạt động chiêm bái, rước xá lợi, lễ tôn trí, nhưng đặt trong khuôn khổ đạo lý, nghi lễ, văn hóa Phật giáo chuẩn mực, không giật gân hay thương mại hóa.

Về vai trò của giáo dục văn hóa tâm linh, cần trang bị hiểu biết nền tảng về Phật học và xá lợi, sự khác biệt giữa xá lợi và các di vật, thánh tích khác, mục đích của chiêm bái xá lợi là phát khởi tâm giác ngộ, chứ không phải xin xỏ hay cầu may. Cần bồi dưỡng niềm tin chính tín, hành trì đúng đắn, khi hiểu đúng, người dân sẽ chiêm bái với tâm cung kính, không cầu danh lợi; biết tu dưỡng thân - khẩu - ý theo tinh thần của Đức Phật, chứ không chỉ lễ bái hình thức; tránh những suy nghĩ lệch lạc như sợ “không được sờ vào xá lợi thì không linh”, hoặc “ai chiêm bái sẽ được độ nhất định”. Đồng thời nuôi dưỡng đời sống đạo đức, tâm linh lành mạnh, giáo dưỡng lòng từ, tinh thần vô ngã, ý thức cộng đồng, những điều cốt lõi mà xá lợi tượng trưng. Góp phần tạo ra một thế hệ Phật tử chính tín, hiểu đạo và hành đạo, từ đó lan tỏa năng lượng tích cực ra toàn xã hội.

Như vậy, truyền thông Phật giáo là "cánh tay nối dài" của Chính pháp, giúp định hướng nhận thức, truyền cảm hứng, minh bạch thông tin. Giáo dục văn hóa tâm linh là "gốc rễ", giúp trồng đức tin chính tín, nuôi dưỡng hành trì đúng đắn và xây dựng cộng đồng giác ngộ.

Cả hai lĩnh vực này phải phối hợp với nhau dưới sự định hướng của Giáo hội, để mỗi người dân, mỗi Phật tử không chỉ biết đến xá lợi mà còn sống theo tinh thần mà xá lợi tượng trưng, đó là giới hạnh, tuệ giác và giải thoát.

Nên chủ động tham gia vào mạng lưới “Thánh tích Phật giáo toàn cầu”

+ Thầy có đề xuất gì để đưa việc tôn thờ xá lợi Đức Phật tại Việt Nam trở thành một phần trong chiến lược bảo tồn Di sản văn hóa Phật giáo? Liệu chúng ta có cần quốc tế hóa, kết nối di sản xá lợi Đức Phật với các nước trong khu vực và thế giới?

Thầy Thích Minh Thuần: Đây là một vấn đề mang tính chiến lược, không chỉ dừng ở việc tôn thờ xá lợi Phật như một tín ngưỡng truyền thống, mà còn mở ra hướng bảo tồn - phát huy - hội nhập văn hóa Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy quốc tế. Xin được đưa ra một số đề xuất:

Đưa việc tôn thờ xá lợi Phật vào chiến lược bảo tồn di sản Phật giáo

Xác lập hệ thống xá lợi quốc gia dưới danh nghĩa "di sản văn hóa tâm linh đặc biệt":  GHPGVN phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch xây dựng danh mục “Các điểm tôn trí xá lợi Phật chính thức tại Việt Nam”, có hồ sơ khoa học - tâm linh đầy đủ. Đề xuất công nhận một số tháp xá lợi (như ở chùa Bái Đính, Viên Đình, Ba Vàng, Tam Chúc…) là di tích văn hóa tâm linh đặc biệt cấp quốc gia.

Xây dựng tuyến hành hương, bảo tồn kết hợp phát triển bền vững: Thiết lập “Tuyến hành hương xá lợi Phật quốc gia”, nối các địa điểm chính từ Bắc - Trung - Nam, kèm theo hệ thống biển chỉ dẫn, trạm dừng, trung tâm thông tin văn hóa Phật giáo.  Hài hòa giữa bảo tồn văn hóa tôn giáo và phát triển du lịch tâm linh có kiểm soát, tránh thương mại hóa.

Lập cơ sở dữ liệu số và bản đồ di sản xá lợi Phật: Phát triển ứng dụng/web chuyên biệt: “Xá lợi Phật - di sản tâm linh Việt Nam” gồm thông tin, hình ảnh, nghi lễ, lịch sự kiện, giáo lý chiêm bái; Tích hợp đa ngôn ngữ, có thể kết nối với hệ thống quốc tế.

Chiến lược quốc tế hóa kết nối di sản xá lợi với khu vực và thế giới

Tham gia vào mạng lưới “Thánh tích Phật giáo toàn cầu”: Việt Nam nên chủ động kết nối với các nước như Ấn Độ, Nepal, Sri Lanka, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, Trung Quốc…, đề xuất lập Mạng lưới Thánh tích Xá lợi Phật giáo quốc tế. Đưa Việt Nam trở thành một trạm hành hương quốc tế, nơi trưng bày, lưu giữ, hoặc tổ chức rước xá lợi định kỳ.

Tổ chức “Diễn đàn quốc tế về Xá lợi và di sản tâm linh Phật giáo”: Mời các học giả, lãnh đạo Giáo hội, chuyên gia bảo tồn di sản, cơ quan UNESCO, tổ chức liên chính phủ cùng tham gia. Nội dung bàn về xá lợi trong góc nhìn tôn giáo - khảo cổ - nghệ thuật - giáo dục; bảo tồn và phát huy di sản tâm linh thời hiện đại.

Xây dựng Trung tâm trưng bày - bảo tàng xá lợi Phật tại Việt Nam: Có thể đặt tại các chùa lớn, nơi có điều kiện vật chất, hạ tầng tốt, gồm các chuyên đề khác nhau.

Như vậy, việc tôn thờ xá lợi Đức Phật không nên chỉ dừng lại ở nghi lễ địa phương mà cần được nâng tầm thành một chiến lược văn hóa tâm linh ngoại giao, gắn với mục tiêu bảo tồn di sản quốc gia và hội nhập quốc tế. Và hơn hết, khi hiểu đúng về xá lợi, người dân sẽ không chỉ thấy một viên ngọc sáng, mà còn thấy ánh sáng trí tuệ và từ bi từ chính bản thân mình.

+ Thầy có thể chia sẻ trải nghiệm cá nhân sâu sắc nhất khi được diện kiến xá lợi Đức Phật trong nước hoặc tại nước ngoài?

Thầy Thích Minh Thuần: Một cảm xúc khó tả khi lần đầu được chiêm bái Xá lợi đức Phật tại Núi Bà Đen dịp Vesak - 2025 vừa qua. Khi đó không gian như chậm lại giữa dòng người chen chúc, mình có cảm tưởng như đang lạc vào một thế giới khác trong sự chính niệm và thức tỉnh, điều đó trở thành động lực tiếp bước cho mình trên con đường tu hành.

+ Trong hành trình hành trì và hoằng pháp của mình, điều gì khiến thầy luôn đau đáu khi nghĩ đến xá lợi Đức Phật tại Việt Nam?

Thầy Thích Minh Thuần: Đức Phật là một nhân vật lịch sử có thật, Ngài là tấm gương sáng cho mọi ngươi soi chiếu bản tâm mình, để nhận thức một cách đúng đắn nhất về con người mình. Ngài trở thành con người vĩ đại bằng nỗ lực cá nhân của chính Ngài. Điều đó nhắc nhở mình phải luôn thức tỉnh, học hỏi và lấy đó là tấm gương lớn, là ngọn đuốc rực sáng để chiếu soi con đường tu tập tìm về sự giác ngộ - giải thoát. Đồng thời, đem những hiểu biết đó nhân rộng, lan tỏa tới mọi người, để chúng ta cùng giác ngộ và chiến thắng chính mình.

Chiêm bái xá lợi để đánh thức Phật trong tâm

+ Thầy có lời nhắn nhủ nào đến người trẻ, Phật tử và đại chúng trong việc tiếp cận xá lợi Đức Phật bằng tâm thế đúng đắn và chánh tín?

Thầy Thích Minh Thuần: Bạn trẻ thân mến, quý Phật tử và những người hữu duyên thân mến!

Khi bạn đứng trước một viên xá lợi Phật, dù nhỏ bé như hạt bụi, hạt ngọc hay một tháp vàng uy nghi, mong hãy nhớ rằng, bạn đang đứng trước một chứng tích sống động của sự tỉnh thức, từ bi và tuệ giác vô biên.

Xá lợi không phải là bùa may, không phải là phép màu, càng không phải là vật để cầu xin điều dễ dãi.

Xá lợi là trái ngọt của một đời tu hành viên mãn, là kết tinh của giới - định - tuệ, là lời nhắc rằng ai cũng có thể trở thành một bậc giác ngộ, nếu kiên trì rèn luyện chính mình.

Hãy đến với xá lợi bằng tâm thành kính, khiêm cung, chứ không phải bằng lòng tham muốn, hiếu kỳ hay vọng cầu.

Hãy để mỗi lần chiêm bái xá lợi là một lần bạn chiêm nghiệm lại bản thân: Ta đã sống chính niệm chưa? Ta đã buông xả tham sân si chưa? Ta đã trao đi lòng từ bi, hay còn giữ lấy ích kỷ?

Bạn thân mến, Đức Phật không để lại cung điện, không để lại của cải, Ngài để lại Chính pháp và tấm gương sáng. Xá lợi là dấu ấn của hành trình ấy, để nhắc chúng ta rằng: “Hãy thắp đuốc lên mà đi, ngọn đuốc trí tuệ trong chính mình”.

Chiêm bái xá lợi không phải để thấy Phật bên ngoài, mà để đánh thức Phật trong tâm mình. Xá lợi là Phật thân, nhưng bạn mới là Phật tương lai.

+ Xin trân trọng cảm ơn thầy Thích Minh Thuần về cuộc trò chuyện đầy hữu ích này!

 

 

 

https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/tin-van/xa-loi-duc-phat-o-viet-nam-nhung-di-san-thieng-lieng-409222.html


top