Theo Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid, Tổng Giám đốc Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM), bảo vệ biển không chỉ là câu chuyện của riêng đại dương mà bắt đầu từ những dòng sông, cánh rừng và những quyết sách phát triển trên đất liền.
Biển Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức từ biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, khai thác quá mức đến suy giảm đa dạng sinh học. Theo Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid, Tổng Giám đốc Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM), bảo vệ biển không chỉ là câu chuyện của riêng đại dương mà bắt đầu từ những dòng sông, cánh rừng và những quyết sách phát triển trên đất liền. Trong cuộc trao đổi với Báo ảnh Việt Nam, ông chia sẻ góc nhìn về những ưu tiên trong phục hồi hệ sinh thái biển, vai trò của khoa học, hợp tác quốc tế và niềm tin vào tương lai xanh của Việt Nam.
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid- Giám đốcTrung tâm Quản lý Môi trường (ICEM) đã sống và gắn bó với Việt Nam nhiều năm.
Ảnh: Trần Thanh Giang/Báo ảnh Việt Nam
Là chuyên gia có hơn ba thập kỷ nghiên cứu về môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại khu vực Mekong, Jeremy Carew-Reid đã dành nhiều năm làm việc tại Việt Nam, đồng hành cùng các cơ quan quản lý trong nhiều chương trình về tài nguyên nước, đa dạng sinh học và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo TS. Jeremy Carew-Reid, các vấn đề môi trường biển của Việt Nam không phải là những thách thức riêng lẻ mà là một phần của bức tranh chung trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là phần lớn những tác động lên biển lại xuất phát từ đất liền. Thiên nhiên không chỉ là nguồn tài nguyên để khai thác mà là nền tảng của mọi sinh kế, sức khỏe và tương lai của con người. Điều chúng ta cần làm là đưa thiên nhiên trở lại.
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid trò chuyện với phóng viên Báo ảnh Việt Nam về công việc của một chuyên gia môi trường quốc tế.
Ảnh: Trần Thanh Giang/ Báo ảnh Việt Nam
Theo Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid, khi nói về những thách thức của môi trường biển Việt Nam cần đặt chúng trong bối cảnh chung của khu vực và thế giới. Những vấn đề mà Việt Nam đang đối mặt cũng là thách thức của nhiều quốc gia ven biển, đòi hỏi sự hợp tác xuyên biên giới và cách tiếp cận tổng thể.
Ông đánh giá cao Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và chương trình quan trọng nhằm bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn còn gặp không ít khó khăn, đặc biệt ở cấp địa phương trong bối cảnh bộ máy quản lý đang được kiện toàn. Theo ông, việc sắp xếp lại hệ thống quản lý sẽ mang lại hiệu quả lâu dài, song trong ngắn hạn cần thêm thời gian để củng cố năng lực và xây dựng lại mạng lưới phối hợp giữa các cấp.
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid cùng các cộng sự trong một hội thảo về môi trường và biến đổi khí hậu. Ảnh: Tư liệu
TS. Jeremy Carew-Reid nhấn mạnh là nhiều vấn đề của biển lại bắt đầu từ đất liền. Ông ví các dòng sông như những "mạch máu" nuôi dưỡng đại dương. Khi dòng chảy tự nhiên bị thay đổi, hệ sinh thái ven biển cũng bị tác động mạnh. Tại lưu vực sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các đập thủy điện ở thượng nguồn cùng hoạt động khai thác cát đã giữ lại phần lớn lượng phù sa vốn có. Hậu quả là bờ biển bị xói lở, đất bị sụt lún, xâm nhập mặn gia tăng và nguồn dinh dưỡng tự nhiên nuôi dưỡng hệ sinh thái biển suy giảm.
Ở miền Trung, câu chuyện lại diễn ra theo một cách khác. Quá trình đô thị hóa, san gạt đồi núi và phát triển hạ tầng ven biển khiến đất đá bị cuốn theo nước mưa đổ thẳng ra biển. Những lớp bùn dày phủ lên các rạn san hô và thảm cỏ biển, làm nhiều hệ sinh thái quý giá bị suy thoái. Tại Nha Trang, sự phát triển nhanh của đô thị và du lịch đã khiến hàng trăm héc-ta san hô bị ảnh hưởng bởi bùn đất và ô nhiễm từ đất liền. Một sức ép khác đối với đại dương là tình trạng khai thác hải sản quá mức và khai thác bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định (IUU). Sau nhiều thập kỷ, nguồn lợi thủy sản ven bờ đã suy giảm đáng kể, nhiều loài hải sản đứng trước nguy cơ bị đe dọa, trong khi sinh kế của ngư dân cũng chịu ảnh hưởng nặng nề.
Ông ghi nhận những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu số, áp dụng hệ thống giám sát tàu cá và tăng cường các quy định pháp lý nhằm hướng tới mục tiêu gỡ bỏ "thẻ vàng" của Ủy ban châu Âu đối với thủy sản xuất khẩu. Bên cạnh đó, nhiều chính sách cũng đang được triển khai để hỗ trợ ngư dân chuyển đổi sang các mô hình sinh kế bền vững như nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái.
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid tại văn phòng làm việc ICEM Việt Nam. Ảnh: Trần Thanh Giang/Báo ảnh Việt Nam
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid phát biểu tại một hội thảo về phục hồi hệ sinh thái tại lưu vực sông Hồng. Ảnh: Tư liệu
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid cắt băng khánh thành Trung tâm đào tạo giải pháp dựa vào thiên nhiên và thiết kế đô thị nhạy cảm với nước tại Đại học Xây dựng Hà Nội. Ảnh: Tư liệu
Theo TS. Jeremy Carew-Reid, ô nhiễm rác thải nhựa vẫn là một trong những thách thức dai dẳng nhất đối với môi trường biển Việt Nam. Mỗi năm, khoảng 730.000 tấn rác nhựa theo hơn 2.000 con sông đổ ra biển, đe dọa đa dạng sinh học, ngành thủy sản, du lịch và chất lượng sống của cộng đồng ven biển.
Tuy vậy, ông bày tỏ sự tin tưởng vào những nỗ lực mà Việt Nam đang thực hiện. Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030 đặt mục tiêu giảm 75% lượng rác nhựa trên biển, cùng với các quy định hạn chế nhựa dùng một lần, cải cách nghề cá và tăng cường giám sát tại các địa phương ven biển.
Chụp ảnh cùng các cộng sự tại thực địa môi trường. Ảnh: Tư liệu
Cùng các cộng sự với chiến lược bảo vệ môi trường Rừng trong khu vực Đông Nam Á. Ảnh: Tư liệu
Sau nhiều năm gắn bó với Việt Nam, điều khiến TS.Jeremy Carew-Reid lạc quan không chỉ nằm ở các chính sách quốc gia mà còn ở sự thay đổi từ chính các địa phương và cộng đồng.
Nhiều thành phố đã đưa chỉ tiêu diện tích cây xanh vào quy hoạch phát triển đô thị, khuyến khích người dân trồng cây và mở rộng không gian xanh. Các khu công nghiệp cũng từng bước tăng diện tích cây xanh và đầu tư hạ tầng xử lý môi trường theo mô hình sinh thái.
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid đi thực địa thiên nhiên. Ảnh: Tư liệu
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid cùng cộng sự tại Vườn Quốc gia Kangeng Kra chan, Thái Lan. Ảnh: Tư liệu
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid cùng các cộng sự tại chuyến công tác tại Lào. Ảnh: Tư liệu
Việt Nam cũng đang hoàn thiện các quy định bảo vệ hành lang sông suối, kiểm soát khai thác cát và phục hồi các vùng đất ngập nước. Dù việc thực thi vẫn còn nhiều khó khăn, theo ông, điều quan trọng là định hướng đã được xác lập.
Ở nhiều địa phương, các chương trình phục hồi rừng, bảo vệ động vật hoang dã và phát triển sinh kế gắn với bảo tồn thiên nhiên đang được triển khai với sự tham gia tích cực của cộng đồng. Những mô hình như phục hồi rừng ngập mặn, nuôi tôm dưới tán rừng ở Đồng bằng sông Cửu Long hay sử dụng tre để chống sạt lở bờ sông tại miền Trung là những ví dụ tiêu biểu của các giải pháp dựa vào thiên nhiên.
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid, Tổng Giám đốc Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM)- một chuyên gia quốc tế rất yêu mến thiên nhiên đất nước con người Việt Nam. Ảnh: Tư liệu
Tiến sĩ Jeremy Carew-Reid cùng các cộng sự trong một chuyến công tác tìm hiểu rừng nhiệt đới. Ảnh: Tư liệu
Theo ông, đây chính là xu hướng phát triển của tương lai. "Các giải pháp dựa vào thiên nhiên không chỉ giúp ứng phó với biến đổi khí hậu mà còn tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng. Khi chính quyền, doanh nghiệp và người dân cùng tham gia, chúng ta có thể từng bước khôi phục sự giàu có về đa dạng sinh học của Việt Nam." TS. Jeremy Carew-Reid nhận định.
TS. Jeremy Carew-Reid nhắn gửi một thông điệp giản dị nhưng đầy ý nghĩa: "Hãy thường xuyên trở về với rừng, với sông và với biển để tìm lại sự bình yên và tái tạo năng lượng. Và mỗi người hãy tìm cho mình một cách, dù rất nhỏ, để góp phần đưa thiên nhiên trở lại. Đó chính là con đường bền vững nhất để bảo vệ tương lai của biển Việt Nam."./.
Bài: Vân Trần/Báo ảnh Việt Nam
Ảnh: Trần Thanh Giang/ Báo ảnh Việt Nam và Tư liệu
https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/tien-si-jeremy-carew-reid-chung-mot-nhip-song-voi-thien-nhien-461784.html