Động Hồ Công (thuộc xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hóa) được người xưa mệnh danh là "Nam thiên tam thập lục động,
Động Hồ Công (thuộc xã Biện Thượng, tỉnh Thanh Hóa) được người xưa mệnh danh là "Nam thiên tam thập lục động, Hồ Công đệ nhất" (Ba mươi sáu động đẹp nhất nước Nam, động Hồ Công đứng đầu) không chỉ bởi hệ thống thạch nhũ và cảnh quan ấn tượng mà còn là một "thư viện đá" vô giá, nơi lưu giữ bút tích những áng văn thơ bất hủ của những bậc đế vương, danh sĩ qua bao thăng trầm lịch sử.
Động Hồ Công gắn liền với truyền thuyết Hồ Công Long và Phí Trường Phòng. Truyền thuyết kể lại rằng, Hồ Công Long là một vị tiên phong đạo cốt, có tài và luôn giúp người hoạn nạn. Ông có một quả bầu - trong quả bầu là một thế giới thần tiên. Ai được Hồ Công Long cho vào quả bầu là được sống trong thế giới thần tiên. Phí Trường Phòng là một chàng trai may mắn được vào thế giới thần tiên để học phép tiên. Khi thành tài Trường Phòng xin về thăm nhà, được Hồ Công Long đưa cho chiếc gậy trúc, cưỡi lên thì chiếc gậy biến thành con rồng bay đi. Truyện dân gian Thanh Hóa còn kể thêm việc Phí Trường Phòng bay đến núi Xuân Đài ở trong động Hồ Công luyện thuốc.
Viết về động Hồ Công và truyền thuyết kể trên, theo sách Đồng Khánh địa dư chí (ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước (chỉ gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ) thời Đồng Khánh (1886-1888): “Trên núi có động, trong động có thạch nhũ màu đỏ tươi. Lại có hang đá quanh co hơn 10 trượng có thể đi lại được. Trong động giống như một chiếc giếng đá không biết đâu là đáy. Cửa động có 2 tượng hình người bằng đá. Tương truyền đó là tượng của Hồ Công và Phí Trường Phòng. Người xưa nói rằng 30 động trời Nam thì động Hồ Công là đệ nhất”.
Sách Đại Nam nhất thống chí (bộ sách dư địa chí (địa lý – lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức) cho biết: “…Một ngọn núi ở phía Nam có động Hồ Công, ngoài động có khối đá trông như hình con cóc cúi đầu ngồi. Trong động, thạch nhũ ở trong động sắc đỏ, lại có hang đá quanh co dài hơn 10 trượng, có thể đi vào được, chỗ tận cùng có giếng đá, sâu không cùng. Cửa động có hai tượng đá, tương truyền là của Hồ Công và Phí Trường Phòng...”.
Chính vì động Hồ Công đã ghi danh trong các sách địa chí Việt Nam thời phong kiến với cảnh đẹp rất nổi tiếng, nên đã khiến cho các bậc tao nhân mặc khách lạc bước tới thăm và là nguồn đề tài cho nhiều danh nho khi đến lãm cảnh xướng họa thơ văn. Đề tài non nước, đăng cao là một đề tài quen thuộc của nhiều nhà Nho. Dấu chân muốn đi xa muôn dặm, đưa tầm mắt đến vô cùng, đăng cao để thỏa chí bình sinh trông ra tứ phía. Những bút tích của các danh sĩ để lại khi đến thăm Động Hồ Công chứa những nỗi niềm tâm sự và miêu tả cảnh đẹp của non sông đất nước… Các bài thơ đề trên vách động Hồ Công như: Đề Hồ Công động của vua Lê Thánh Tông (1442 - 1497), Ngự chế đề Hồ Công động của vua Lê Hiến Tông(1464 - 1507), Du Hồ Công động tự thuật chi nhất thủ của Trịnh Quốc Hiến (không rõ thân thế), Trùng tu Xuân Đài sơn Hồ Công Động Du Anh tự của Phùng Khắc Khoan (1528-1613), Viết về động Hồ Công của Ngô Thời Sĩ (1726 - 1780), Du Hồ Công động của thân phụ Đại thi hào Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm (1708 - 1766), Thanh kỳ khả ái của chúa Trịnh Sâm(1739 - 1782)… đã phần nào thể hiện điều đó.
Khi chạm tay lên những nét chữ đã nhạt màu theo năm tháng, ta như cảm nhận được sự choáng ngợp của vị chúa nhân lúc dừng chân. “Thanh Kỳ Khả Ái” của chúa Trịnh Sâm (Thanh Hóa xinh đẹp và đáng yêu) không chỉ là lời khen ngợi phong cảnh, mà còn là sự trân trọng đối với mảnh đất này, một lời khẳng định về giá trị thẩm mỹ vượt thời gian.
Ấn tượng mạnh mẽ nhất có lẽ là bài thơ của vị vua anh minh, Lê Thánh Tông, được khắc từ năm Hồng Đức thứ 9 (1478). Bài thơ “Đề Hồ Công động” không chỉ tả cảnh mà còn gửi gắm triết lý sâu xa của bậc minh quân khi dạo chơi nơi non cao. Đọc từng câu thơ được khắc công phu trên vách đá: “Thần gọt quỷ đẽo tạo nên dãy núi muôn trùng/ Thành nơi cửa cao nhà rộng giữa vũ trụ bao la/ Công danh trên đời đều là mộng cả, ...” ta thấy được cái nhìn siêu thoát của một vị vua, người đã nhìn thấy sự phù du của công danh trước sự vĩnh cửu của núi sông. Vẻ đẹp của Động Hồ Công đã khiến vị vua phải tạm gác lại mọi việc triều chính để chiêm ngưỡng cảnh sắc mênh mông, để rồi viết lên đó khát vọng muốn "cưỡi gió lên tận đỉnh núi cao chót vót, để ngắm hết biển mây ở giữa bầu trời bao la".
Còn vua Lê Hiến Tông viết: “Cưỡi ngựa thong dong đến động trời/ Bám mây leo thẳng hỏi cửa tiên/ Trăng vui chơi ca hát sau miếu cổ/ Đất mở cửa sổ thông với thái cực/ Tùng quế tung hoành phân rõ cảnh tiên cảnh tục/ Non sông thu vào trong ngòi bút thi nhân/ Nghe đồn tiếng lạ nơi đây có tiên khách đã hóa cánh lông trong quả bầu tiên/ Mong được vận thái bình muôn vạn năm”.
Dưới cái nhìn của một danh sĩ, Ngô Thời Sĩ đã cảm nhận vẻ đẹp của động Hồ Công qua bài thơ khi ông đi nhận chức Liêm án ở Thanh Hoa: “Đời Cảnh Hưng năm Đinh Hợi (1743), phụng chỉ nhà vua làm chức Liêm án xứ Thanh Hoa. Nhân việc công rỗi rãi, lên núi nhân lúc cảm hứng làm một bài thơ đề ở vách đá viết rằng: Một quả bầu treo ở trên cao nơi phía đông rừng Thiền/ Nghe nói Hồ Công ngụ ở trong đó/ Chất thủy ngân đã tích tụ như thế nào mà tạo được những phiến thạch nhũ óng ánh như vậy/ Núi sông ngàn năm vẫn tự tại, động đá vẫn trống không như cũ/ Thánh nhân biến hóa không gì không làm được/ Trái đất sinh ra mất đi không biết đâu cho cùng/ Vũ trụ vốn theo sở thích của mình/ Lẽ nào còn cần phải đi khắp thế gian để xét hỏi thủa trời đất buổi hoang sơ”.
Tác tác phẩm thi thạch cảu các bậc tao nhân mặc khách khắc trên vách đá ở Động Hồ Công.
Đi xa hơn vào cửa động, trên vách đá bên phải, vẫn còn rõ nét bốn chữ triện “Sơn bất tại cao” của Nguyễn Nghiễm, thân phụ của Đại thi hào Nguyễn Du. Bốn chữ này mang theo triết lý uyên thâm: “Núi không cần cao mà có tiên, ắt sẽ linh thiêng”. Đây là cái nhìn của một bậc danh sĩ, một người hiểu rõ lẽ đời, đặt giá trị tinh thần, linh thiêng lên trên hình thức vật chất (sự cao lớn). Giữa không gian tĩnh lặng, câu chữ ấy như một lời nhắc nhở về giá trị cốt lõi của sự an lạc và trí tuệ. Ta cảm thấy một sự kết nối thiêng liêng giữa người cha hiền, người thầy vĩ đại và cậu con trai thiên tài sau này.
Tác tác phẩm thi thạch cảu các bậc tao nhân mặc khách khắc trên vách đá ở Động Hồ Công.
Những bài thơ khắc trên đá không chỉ là bút tích đơn thuần, mà là những chứng nhân lịch sử, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại. Mỗi nét đục, mỗi chữ Hán, chữ Nôm đều chứa đựng hơi thở, nỗi niềm và cái nhìn thế sự của những tâm hồn lớn. Dù thời gian có bào mòn vách đá, những lời thơ này vẫn âm thầm kể câu chuyện về một vùng đất đã hun đúc nên hồn cốt văn hóa Thanh Hóa.
Đến Hồ Công hôm nay, du khách không chỉ đến để chiêm ngưỡng hang động, mà còn để lắng nghe những "lời thì thầm" của lịch sử, để rung cảm trước cái đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng và trí tuệ con người lưu giữ./.
- Nội dung: Thu Hiền/Báo ảnhViệt Nam
-
https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/thi-thach-o-dong-ho-cong-443861.html