Tiêu điểm

Phát triển văn hóa đối ngoại để nâng tầm vị thế quốc gia

Trong tiến trình định vị quốc gia trước những biến động phức tạp của bối cảnh toàn cầu, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà đã trở thành "sức mạnh mềm", trụ cột phát triển và hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác lập một tư duy mới: Đưa văn hóa đối ngoại từ vai trò "phụ trợ" trở thành mũi nhọn chiến lược, lấy di sản, kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa làm động lực bứt phá nâng tầm vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Trong tiến trình định vị quốc gia trước những biến động phức tạp của bối cảnh toàn cầu, văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần mà đã trở thành "sức mạnh mềm", trụ cột phát triển và hệ điều tiết cho sự phát triển bền vững. Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị và Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ xác lập một tư duy mới: Đưa văn hóa đối ngoại từ vai trò "phụ trợ" trở thành mũi nhọn chiến lược, lấy di sản, kinh tế sáng tạo và công nghiệp văn hóa làm động lực bứt phá nâng tầm vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Phu nhân Thủ tướng Lê Minh Hưng cùng Phu nhân Thủ tướng các nước Lào, Campuchia và Thái Lan đến thăm Văn Miếu - Quốc Tử Giám nhân dịp Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026. Ảnh: Tuấn Anh - TTXVN 

Thế giới đang bước vào một thời kỳ xác lập trật tự mới với những chuyển biến nhanh chóng và sâu sắc. Cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay không chỉ dừng lại ở tiềm lực kinh tế hay quân sự, mà đã mở rộng sang cạnh tranh về giá trị, bản sắc và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa.

Sự bùng nổ của công nghệ số và các nền tảng xuyên biên giới mang lại cơ hội quảng bá vô tận, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức gay gắt về nguy cơ xâm nhập của các yếu tố ngoại lai, xung đột giá trị và bảo vệ chủ quyền văn hóa số.

Lễ hội Áo dài Du lịch Hà Nội 2025 – điểm nhấn trong chuỗi hoạt động của Festival Thăng Long – Hà Nội 2025. Ảnh: Khánh Long/Báo ảnh Việt Nam 

 

"Phát triển văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới." (Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị)


Trước thực tiễn đó, ngày 07/01/2026, Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam. Và mới đây, ngày 17 tháng 7 năm 2026, Chính phủ đã ra Quyết định số 1306/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Hai văn kiện mang tính chiến lược về phát triển văn hóa này đã tập trung xác định một tư duy nhất quán, đó là: văn hóa phải đi trước soi đường, phát triển văn hóa đối ngoại phải gắn liền với nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia và gia tăng chỉ số sức mạnh mềm (Soft Power Index).

Nghị quyết 80-NQ/TW và Quyết định 1306/QĐ-TTg đã đặt ra hệ thống các mục tiêu vô cùng cụ thể, định lượng và mang tầm nhìn vươn xa, thể hiện khát vọng đưa văn hóa Việt Nam phát triển và hội nhập mạnh mẽ với thế giới. Theo đó, tầm nhìn đến 2045, Việt Nam sẽ lọt vào Top 30 Thế giới về chỉ số sức mạnh mềm (Soft Power Index); văn hóa sẽ trở thành trụ cột kinh tế, đóng góp 9% GDP; có thêm ít nhất 15 di sản, danh hiệu được các tổ chức quốc tế công nhận, ghi danh; thành lập thêm ít nhất 5 Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài; giành thêm ít nhất 15 giải thưởng quốc tế uy tín trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và công nghiệp văn hóa...

Đông đảo khán giả hào hứng thưởng thức chương trình nghệ thuật âm nhạc trong phim "Cineshow - Music in Film" trên sân khấu hoành tráng ngoài trời của Liên hoan phim Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Tư liệu 

Một trong những điểm nghẽn lớn nhất nhiều năm qua là tư duy nhìn nhận di sản và văn hóa như một "chi phí" cần ngân sách bao cấp, thay vì một "tài nguyên" tạo ra giá trị gia tăng. Nghị quyết 80-NQ/TW đã mở đường cho bước chuyển từ tư duy "bảo tồn để giữ gìn" sang "bảo tồn để phát triển", thúc đẩy mô hình "di sản dẫn dắt phát triển kinh tế".

Nhìn vào thực tiễn địa phương, Cố đô Huế chính là một minh chứng sinh động cho tinh thần này. Mới đây, Đề án "Khai thác, phát huy giá trị Quần thể di tích Cố đô Huế đến năm 2035" (Quyết định 2376/QĐ-UBND ngày 08/07/2026) được ban hành đã tạo bước ngoặt chuyển từ khai thác dịch vụ đơn thuần sang phát triển hệ sinh thái kinh tế di sản và công nghiệp sáng tạo. Huế đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế giai đoạn 2023-2025 (dù đạt 94 tỷ đồng doanh thu dịch vụ nhưng sản phẩm vẫn thiếu chiều sâu, thiếu hệ sinh thái đồng bộ) để hướng tới mục tiêu tham vọng hơn, đó là đạt 1.500 - 2.000 tỷ đồng doanh thu khai thác tài sản công giai đoạn 2026-2035.

Dấu ấn văn hóa đất phương Nam. Ảnh: Thông Hải/Báo ảnh Việt Nam 

Điểm mới quan trọng nhất là Đề án đã thay đổi cách nhìn về di sản. Nếu trước đây, khai thác di sản chủ yếu được hiểu là phát triển các hoạt động dịch vụ thì nay phạm vi đã được mở rộng thành khai thác và phát huy giá trị, nghĩa là mỗi hoạt động kinh tế đều phải góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, giáo dục cộng đồng, quảng bá hình ảnh Huế và tạo thêm nguồn lực cho bảo tồn. Đây cũng chính là tinh thần của Luật Di sản văn hóa năm 2024 và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Đà Nẵng - thành phố lễ hội pháo hoa quốc tế nổi tiếng của Việt Nam và thế giới. Ảnh: Tư liệu 

Ở mảng công nghiệp văn hóa đô thị, Tp. Hồ Chí Minh đang khẳng định vai trò đầu tàu. Được UNESCO ghi danh là "Thành phố sáng tạo trong lĩnh vực điện ảnh" vào cuối năm 2025 (đại diện đầu tiên của Đông Nam Á), địa phương này hiện sở hữu hơn 17.670 doanh nghiệp sáng tạo, 97.000 lao động và đóng góp 5,7% GRDP (hướng tới 7,2% vào năm 2030). Việc hợp nhất địa giới hành chính và triển khai mô hình chính quyền hai cấp còn giúp Tp. Hồ Chí Minh cộng hưởng sức mạnh công nghệ từ Bình Dương và du lịch - thể thao biển từ Bà Rịa - Vũng Tàu, tạo nên chuỗi giá trị công nghiệp giải trí, điện ảnh và nghệ thuật biểu diễn tầm cỡ quốc tế.

Văn hóa đối ngoại không đơn thuần là những chuyến du lịch hay các đợt biểu diễn giao lưu ngắn ngày. Đó là chiến lược định vị giá trị quốc gia, là "sức mạnh mềm" bảo đảm cho sự tự chủ, tự cường và phát triển vững chắc của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Huế - thành phố di sản của Việt Nam. Ảnh: Thanh Hòa/Báo ảnh Việt Nam 

Vì vậy, để phát huy sức mạnh mềm văn hóa, nâng cao vị thế, uy tín và tầm ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế, bên cạnh việc xây dựng, phát triển những đô thị di sản sống động như Hà Nội, Huế, Hội An (Đà Nẵng), những trung tâm sáng tạo năng động như Tp. Hồ Chí Minh, cùng một nền công nghiệp văn hóa hiện đại, Việt Nam cần phải có nhiều giải pháp trọng tâm như phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm công tác văn hóa đối ngoại; từng bước triển khai Tham tán văn hóa hoặc Tùy viên văn hóa tại các cơ quan đại diện ngoại giao ở các nước đối tác chiến lược; đổi mới công tác quảng bá văn hóa quốc gia; nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động văn hóa đối ngoại, tăng cường sự hiện diện của Việt Nam tại các sự kiện văn hóa, nghệ thuật quốc tế và đẩy mạnh ngoại giao văn hóa - thể thao... Có như vậy, ngoại giao văn hóa mới thể hiện được vai trò và kì vọng của đất nước trong kỉ nguyên hội nhập và phát triển sâu rộng như hiện nay./.

  • Bài: Thanh Hòa - Ảnh: Báo ảnh Việt Nam, TTXVN & Tư liệu

https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/phat-trien-van-hoa-doi-ngoai-de-nang-tam-vi-the-quoc-gia-462738.html


top