Dưới chân đèo Ô Quy Hồ, các bản Chu Va 6, Chu Va 8, Chu Va 12 nép mình bên những con suối trong lành, mát lạnh. Trước đây, nơi này thuộc diện đặc biệt khó khăn, người dân chủ yếu sống dựa vào nương ngô, ruộng lúa nên cuộc sống còn nhiều bấp bênh. Những năm gần đây, sự xuất hiện ngày càng nhiều các bể nuôi cá tầm bằng xi măng và composite ở các bản đã mở ra hướng sản xuất hàng hóa mới. Không chỉ tạo việc làm ổn định, nghề nuôi cá nước lạnh còn giúp đời sống của bà con có nhiều chuyển biến rõ rệt.
Bản Chu Va 12 nhìn từ trên cao với hệ thống bể nuôi cá tầm bằng xi măng và composite chạy dọc theo các con suối.
Dòng nước lạnh trong vắt, yếu tố tiên quyết để cá tầm sinh trưởng tốt.
Một trong những điển hình tiêu biểu là gia đình ông Đỗ Chí Đoàn ở bản Chu Va 12 đã gắn bó với nghề nuôi cá nước lạnh từ cuối năm 2010. Ban đầu, với số vốn khoảng 250 triệu đồng vay ngân hàng, vợ chồng ông Đoàn xây dựng 5 bể nuôi nhỏ, chủ yếu nuôi cá hồi và cá tầm. Tuy nhiên, do tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến môi trường nuôi, sau vài năm ông chuyển hẳn sang nuôi cá tầm bởi cá tầm có khả năng thích nghi tốt và có tuổi đời sống lâu hơn. Đến nay, trang trại của gia đình ông Đoàn đã mở rộng lên 23 bể, trở thành một trong những cơ sở nuôi cá tầm quy mô lớn tại địa phương.
Theo ông Đoàn, nuôi cá tầm đòi hỏi kỹ thuật cao và sự kiên trì, bởi thời gian nuôi kéo dài từ 1,5 đến 2 năm mới có thể thu hoạch. Đặc biệt, giai đoạn cá giống (kích thước 7-10cm) là khó chăm sóc nhất, cần cho ăn 7-8 lần mỗi ngày, thường xuyên vệ sinh bể và theo dõi sát sao để phòng bệnh.
Những con cá tầm giống được tuyển chọn kỹ lưỡng.
Công nhân thực hiện vệ sinh bể nuôi cá tầm.
Nguồn nước suối tự nhiên đóng vai trò quyết định. Nước phải đảm bảo sạch, nhiệt độ duy trì từ 17-22°C; nếu thấp hơn cá chậm lớn, còn cao hơn dễ phát sinh dịch bệnh. Khi cá đạt trọng lượng từ 2,5 kg trở lên thì sức đề kháng tốt hơn và sinh trưởng ổn định.
Hiện nay, cá tầm của gia đình ông Đoàn chủ yếu được cung cấp cho các nhà hàng tại Lai Châu, Sa Pa và đặc biệt là thị trường Hà Nội. Với giá bán dao động từ 170.000 - 180.000 đồng/kg, mỗi năm gia đình thu về từ 300-500 triệu đồng, đồng thời tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương với mức thu nhập từ 6 - 15 triệu đồng/tháng.
Việc theo dõi chất lượng nguồn nước và dịch bệnh có tính quyết định đến khả năng sinh trưởng của cá.
Theo Ủy ban nhân dân xã Bình Lư, nghề nuôi cá tầm đã được nhân rộng ra nhiều hộ dân. Để phát huy tiềm năng, địa phương tích cực vận động người dân phát triển mô hình, quy hoạch vùng nuôi phù hợp, đồng thời chú trọng phòng chống thiên tai và hỗ trợ kỹ thuật. Các cơ quan chuyên môn cũng thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo nhằm giúp người nuôi nâng cao kiến thức chăm sóc, phòng bệnh cho cá. Năm 2025, hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn xã tiếp tục duy trì ổn định với tổng thể tích nuôi cá nước lạnh đạt 21.870 m³, sản lượng ước đạt 197 tấn.
Với giá bán 170.000 - 180.000 đồng/kg, mỗi năm các hộ nuôi quy mô lớn có thể thu lãi tới nửa tỷ đồng.
Có thể thấy, nghề nuôi cá tầm không chỉ giúp nhiều hộ dân thoát nghèo, vươn lên khá giả mà còn góp phần nâng cao thu nhập bình quân của địa phương. Đây được xem là chìa khóa khẳng định được thương hiệu riêng cho tỉnh với những sản phẩm nông nghiệp đặc trưng, có giá trị kinh tế cao./.
Bài: Ngân Hà - Ảnh: Tất Sơn, Trần Thanh Giang/Báo ảnh Việt Nam
https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/nuoi-ca-tam-duoi-chan-deo-o-quy-ho-440987.html