Công việc tưởng chừng đơn giản nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn cao. Nếu tập trung làm liên tục, mỗi ngày mỗi người cũng chỉ hoàn thành được một chiếc nón. Thế nhưng thực tế, phần lớn thời gian, họ chỉ tranh thủ làm lúc nông nhàn hoặc khi rảnh rỗi việc đồng áng, việc nhà. Nghề không mang lại thu nhập cao – mỗi chiếc nón bán ra khoảng 110.000 đồng – nhưng đổi lại là niềm vui khi vẫn còn được giữ nghề của cha ông.
Trong quy trình làm nón, theo bà Tơ, công đoạn khó nhất là “bung vành” (kiềng vành lên khuôn trước khi kết lá) – bước quyết định hình dáng tròn đẹp và độ đều của chiếc nón. Chính sự kỹ lưỡng trong từng chi tiết, từ chọn lá đẹp đến từng mũi kim đều đặn, đã tạo nên những chiếc nón không chỉ bền mà còn có giá trị thẩm mỹ.
Để có một chiếc nón bền, đẹp, cần trải qua quá trình dài với nhiều khâu tỉ mỉ, khéo léo như: làm mô (khung), chuốt vành, đan lá, chằm nón...
Ảnh: Nguyễn Luân/Báo ảnh Việt Nam
Hiện nay, các sản phẩm của ba chị em chủ yếu được làm theo đơn đặt hang của thương lái. Theo các bậc cao niên, nghề này đã tồn tại hơn 70 năm và hiện nay đã hình thành Nghiệp đoàn chằm nón lá với trên 36 hộ tham gia. Đây không chỉ là nơi liên kết những người làm nghề mà còn góp phần duy trì sinh kế cho nhiều phụ nữ trung niên và lớn tuổi trong vùng.
Trải qua nhiều thay đổi, từ loại nón 15 vành truyền thống, người thợ đã chuyển sang làm nón 16 vành theo kiểu Huế để phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.
Điểm đặc trưng của nón lá Cần Thơ nằm ở nguyên liệu và kỹ thuật chế tác. Người dân nơi đây sử dụng lá mật cật – loại lá có độ bền cao, bề mặt mịn – kết hợp với khung trúc để tạo nên chiếc nón chắc chắn.
Ba chị em bà Trần Thị Năm (65 tuổi), Trần Thị Tơ (68 tuổi) và Trần Thị Trà (72 tuổi) có thể được xem như những “người giữ lửa”, kiên trì gắn bó với từng vành nón qua nhiều thập kỷ. Ảnh: Lê Minh/Báo ảnh Việt Nam
Quy trình làm nón gồm nhiều công đoạn như lên khung (mô), kiềng vành, xoay lá, chằm nón và nức vành. Trong đó, việc xoay lá cũng đòi hỏi kỹ thuật cao để các lớp lá – gồm lớp trong, lớp giấy lót và lớp ngoài – được sắp xếp đều, không bị lệch. Sau khi hoàn thiện, nón còn được quét một lớp dầu bóng để tăng độ bền và khả năng chống nước.
Sản phẩm nón lá ở đây cũng được phân thành hai loại chính: nón đi ruộng và nón du lịch. Nếu nón đi ruộng chú trọng độ bền, vành rộng để che nắng tốt thì nón du lịch lại đề cao yếu tố thẩm mỹ, được chọn lá kỹ lưỡng hơn, đường kim mũi chỉ tinh xảo hơn. Chính những chiếc nón đi chợ này thường được những người có tay nghề cao ưu tiên làm vì giá bán cao nhất.
Làm nón lá giúp phụ nữ Thới Lai, Cần Thơ kiếm thêm thu nhập lúc nhàn rỗi. Ảnh: TTXVN
Không chỉ đơn thuần là vật dụng che nắng, che mưa, chiếc nón lá còn mang trong mình giá trị văn hóa sâu sắc. Ở miền Tây, hình ảnh người phụ nữ với chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng quen thuộc, gắn liền với đời sống sông nước hiền hòa. Với những người như bà Năm, bà Tơ, bà Trà, mỗi chiếc nón còn là một phần của ký ức, của tình cảm gia đình và của cả một làng nghề.
Những vành nón vẫn được chằm đều đặn mỗi ngày, dù chậm rãi, nhưng bền bỉ. Và trong từng mũi kim của những người phụ nữ đã đi qua hơn nửa đời người ấy, không chỉ có sợi chỉ kết nối những lớp lá, mà còn là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại, giữ lại một nét đẹp bình dị mà sâu sắc của miền Tây Nam Bộ ./.
Bài: Trung Khánh - Ảnh: Lê Minh, Nguyễn Luân/Báo ảnh Việt Nam, Thu Hiền/TTXVN
https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/nhung-vanh-non-giu-hon-que-o-thoi-lai-445988.html