Từ nghị quyết đến hành động

Hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: Đường lớn đã mở, tầm nhìn đã rõ ràng

Bộ đôi Nghị quyết số 57-NQ/TW và 59-NQ/TW được ban hành không chỉ là những văn bản định hướng chiến lược mang tầm vĩ mô, mà đã trở thành "chiếc chìa khóa vàng" mở toang cánh cửa thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để chủ động đón nhận dòng chảy tri thức toàn cầu, bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.

Bộ đôi Nghị quyết số 57-NQ/TW và 59-NQ/TW được ban hành không chỉ là những văn bản định hướng chiến lược mang tầm vĩ mô, mà đã trở thành "chiếc chìa khóa vàng" mở toang cánh cửa thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để chủ động đón nhận dòng chảy tri thức toàn cầu, bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.

Từ “Hòn ngọc Viễn Đông” của thế kỷ XX, TP. Hồ Chí Minh bước vào thế kỷ XXI với khát vọng trở thành siêu đô thị toàn cầu - điểm hội tụ của dòng vốn, tri thức, sáng tạo và kết nối quốc tế. Ảnh: Văn Trung 

Tầm nhìn chiến lược của bộ đôi Nghị quyết 57 và 59

Trong một thế giới mà mạng lưới tri thức toàn cầu đang kết nối với tốc độ chóng mặt, không một quốc gia nào có thể tự mình phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong một "ốc đảo" biệt lập. Đối với Việt Nam, hợp tác quốc tế chính là con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đi tắt đón đầu, tiếp thu các thành tựu tiên tiến, thu hút nguồn lực chất lượng cao và chuyển giao những công nghệ lõi mang tính sống còn.

Nhìn vào thực tế những năm qua, công tác hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã ghi nhận những bước chuyển mình rất đáng tự hào. Từ vị thế một quốc gia chủ yếu nhận hỗ trợ kỹ thuật một chiều, Việt Nam đã dần trở thành một đối tác chủ động, bình đẳng trong nhiều mạng lưới nghiên cứu đa phương và song phương.

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận, bức tranh thực tế vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Đó là việc hợp tác đôi khi còn dàn trải, mang tính hình thức; ký kết biên bản ghi nhớ (MOU) nhiều nhưng dự án triển khai thực chất, tạo ra sản phẩm thương mại hóa còn khiêm tốn. Năng lực hấp thụ công nghệ của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu. Việc thu hút các nhà khoa học, chuyên gia kiều bào hàng đầu thế giới về cống hiến đôi lúc vẫn vướng phải những nút thắt về thủ tục hành chính, đãi ngộ và môi trường làm việc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và một số Bộ, Ngành Trung ương về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu ở Việt Nam. Ảnh: Thống Nhất - TTXVN

Bên cạnh đó, cái chúng ta thiếu hiện nay không phải là những bộ óc thông minh, mà là một môi trường đủ độ 'mở' và dung nạp để các nhà khoa học thế giới sẵn sàng đến làm việc, các nhà khoa học trong nước tự tin đối thoại sòng phẳng với đồng nghiệp quốc tế. Chúng ta cần những trung tâm nghiên cứu xuất sắc được vận hành hoàn toàn theo mô hình quốc tế ngay tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng.

Nhận thức rõ tầm quan trọng mang tính thời đại đó, Trung ương đã ban hành hai văn kiện có tính chất bước ngoặt. Đó là Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; và Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Sự kết hợp của bộ đôi Nghị quyết này tạo ra một hệ động lực kép mạnh mẽ. Nếu Nghị quyết 57 xác định rõ mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới; thì Nghị quyết 59 với mục tiêu đẩy mạnh hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở rộng không gian phát triển bền vững và hiện đại hóa đất nước chính là "tấm hải đồ" định hướng con tàu đó ra khơi, thiết lập các mối quan hệ đối tác chiến lược toàn cầu.

Ý nghĩa sâu sắc của hai Nghị quyết nằm ở chỗ chúng tháo gỡ những rào cản cơ chế cũ, tạo hành lang pháp lý thông thoáng và khẳng định một tư duy mới: Hội nhập quốc tế về khoa học công nghệ phải đi sâu vào thực chất, lấy hiệu quả chuyển giao và năng lực tự chủ làm thước đo cao nhất.

Hợp tác phải đi vào thực chất, hiệu quả

Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác khoa học công nghệ với hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết hàng trăm hiệp định, thỏa thuận song phương và đa phương. Các chương trình hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Mỹ, Israel hay Liên minh Châu Âu (EU) đã tạo ra nhiều kết quả thực chất.

Tiềm lực khoa học - công nghệ tiếp tục được củng cố, hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hình thành và phát triển. Năm 2024, Việt Nam xếp thứ 56/119 về hệ sinh thái khởi nghiệp, tăng 2 bậc so với năm 2023; Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) tăng 4 bậc so với năm 2022, đứng thứ 44/132, cho thấy năng lực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam đang nâng lên một bước quan trọng.

Thủ tướng Lê Minh Hưng dự Lễ chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo và Hội nghị triển khai công nghệ chiến lược. Ảnh: Dương Giang - TTXVN

Tuy nhiên, trong bối cảnh khoa học công nghệ thế giới đang tiến nhanh như vũ bão thì những thành quả đó chưa đủ để Việt Nam làm chủ cuộc chơi. Đó là chưa kể việc hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ. Nhiều dự án hợp tác mới dừng ở mức trao đổi học thuật, chưa gắn kết chặt với nhu cầu doanh nghiệp; cơ chế tài chính và bảo hộ sở hữu trí tuệ còn chồng chéo; thủ tục tiếp nhận chuyên gia, thiết bị nghiên cứu còn phức tạp... Vì thế, nếu chúng ta không có bước chuyển đổi trạng thái nhanh chóng thì sẽ không tránh khỏi nguy cơ tụt hậu, bỏ lỡ thời cơ, tự đánh mất cơ hội vươn mình để tiến vào sân chơi chung toàn cầu.

Để hiện thực hóa khát vọng mà Nghị quyết 57 và 59 đã vạch ra, việc thúc đẩy hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo ngay lúc này cần phải có những hành động thực chất, quyết liệt, hiệu quả bằng các giải pháp quan trọng nhằm tạo ra những “mũi khoan” đột phá để bứt phá.

Những giải pháp mang tính đột phá

Về mặt vĩ mô, đi cùng với việc xây dựng môi trường pháp lý ổn định, tạo cơ chế thông thoáng, có chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ rõ ràng, minh bạch… Việt Nam cần một chiến lược tiếp cận toàn diện, vừa mang tính ngoại giao chiến lược, vừa phải chuẩn bị sẵn sàng nội lực để "hấp thụ" chuyển giao công nghệ. Bởi mỗi quốc gia, khu vực đều có những thế mạnh công nghệ riêng biệt. Ví dụ như Mỹ, EU có thế mạnh về thương mại hóa phần mềm, trí tuệ nhân tạo (AI), chip, bán dẫn, điện toán đám mây, công nghệ vũ trụ, tự động hóa… Nhật Bản, Hàn Quốc mạnh về cơ khí chính xác, vật liệu tiên tiến, công nghiệp nặng, công nghệ thông tin, điện tử tiêu dùng và đổi mới sáng tạo ứng dụng. Trong khi đó các đối tác truyền thống như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ lại mạnh về khoa học cơ bản, năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình, hàng không vũ trụ, năng lượng xanh, năng lượng tái tạo, hạ tầng số và viễn thông, công nghệ sinh học…

Vì vậy, Việt Nam không nên áp dụng một công thức chung mà cần đa dạng hóa và tối ưu hóa hợp tác theo thế mạnh của từng đối tác. Nói cách khác, Việt Nam phải xác định rõ trọng tâm hợp tác dựa trên cơ sở thế mạnh của mỗi đối tác hợp tác và nhu cầu nội tại của bản thân để tránh việc hợp tác dàn trải. Đồng thời cũng phải chuẩn bị sẵn nội lực hấp thụ những thành quả hợp tác ấy, bởi thành quả hợp tác không được sử dụng, hoặc sử dụng không hiệu quả thì kết quả cũng bằng không.

Về giải pháp cụ thể, Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình hợp tác truyền thống sang mô hình đồng nghiên cứu, đồng phát triển sản phẩm và cùng khai thác kết quả khoa học. Theo đó, chúng ta không những phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), khu công nghệ cao Hòa Lạc, Tp. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng trở thành những trung tâm nghiên cứu mạnh để tạo thành điểm đến của nhiều doanh nghiệp và tập đoàn công nghệ quốc tế, mà cần có các chính sách ưu đãi tối đa về thuế, đất đai và thủ tục hành chính để khuyến khích các tập đoàn lớn trên thế giới tìm đến đặt các Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển (R&D) tại Việt Nam để đào tạo nhân lực và chuyển giao công nghệ. Đây là hình thức hợp tác “hai chiều”, vừa giúp Việt Nam tiếp cận công nghệ lõi, vừa tạo môi trường cho các kỹ sư, nhà khoa học trẻ tiếp cận với tinh hoa của nhân loại.

Nhà máy lắp ráp và kiểm định chip của Công ty Intel (Mỹ) tại Khu công nghệ cao TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Hoàng Hải – TTXVN 

Song song với đó là khuyến khích các viện nghiên cứu, trường đại học Việt Nam ký kết hợp tác song phương/đa phương với các viện nghiên cứu hàng đầu thế giới (như MIT của Mỹ, RIKEN của Nhật, KAIST của Hàn Quốc) để thực hiện các đề tài khoa học có tính ứng dụng cao.

Nói cách khác là Việt Nam cần chủ động tham gia cùng các tập đoàn đa quốc gia ngay từ khâu nghiên cứu và phát triển (R&D). Thay vì chỉ gia công hay nhập khẩu công nghệ sẵn có, chúng ta phải đặt hàng các phòng thí nghiệm quốc tế giải quyết các bài toán cụ thể của Việt Nam, đồng thời cam kết chuyển giao công nghệ lõi.

Để các giải pháp này có thể phát huy hiệu quả Việt Nam cần có cách tiếp cận mở, vận dụng sáng tạo, cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra. Chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo. Có cơ chế thí điểm để doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ mới có sự giám sát của Nhà nước; có chính sách miễn trừ trách nhiệm đối với doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong trường hợp thử nghiệm công nghệ mới, mô hình kinh doanh mới mà có thiệt hại về kinh tế do nguyên nhân khách quan. 

Việc thu hút, trọng dụng nhân tài cũng là yếu tố rất quan trọng đã được Nghị quyết số 57-NQ/TW chỉ rõ. Theo đó, để thu hút, trọng dụng, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia, các "tổng công trình sư" trong và ngoài nước, chúng ta cần có cơ chế đặc biệt về nhập quốc tịch, sở hữu nhà, đất, thu nhập, môi trường. Đi cùng với đó là xây dựng, kết nối và phát triển mạng lưới chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.

Việt Nam hiện có khoảng hơn 600.000 trí thức, nhà khoa học trên tổng số hơn 6 triệu kiều bào trên khắp thế giới, trong đó có nhiều chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học nổi tiếng thế giới đang sinh sống và làm việc tại những cường quốc về khoa học công nghệ như Mỹ, một số nước Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… Nếu chúng ta tận dụng được một phần trong số 600.000 trí thức ấy cho đất nước, cho các dự án lớn sẽ là một thành công rất lớn.

Tập đoàn Bosch của Đức tin tưởng chọn Việt Nam làm “cứ điểm” phát triển phần mềm lớn thứ hai toàn cầu (chỉ sau Ấn Độ). Trong ảnh: Nhà máy công nghệ cao của Bosch tại tỉnh Đồng Nai. Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN 

Theo GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Các trường Đại học, Cao đẳng Việt Nam, chúng ta cần phải tập hợp lực lượng trí thức ở quy mô rộng hơn, không chỉ là trí thức kiều bào mà còn cả các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài. Đây là lực lượng vô cùng quan trọng. Nếu như họ có khả năng, muốn đóng góp cho đất nước của chúng ta thì phải hết sức tạo điều kiện cho họ đến Việt Nam làm việc. Các nước khác cũng như vậy, và chúng ta có thể học hỏi thêm kinh nghiệm từ họ.

Cũng theo GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ, Nghị quyết 57 ra đời đã tạo nên một sức hút rất lớn đối với đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia quốc tế bởi nó cho thấy Việt Nam đang có kế hoạch và khát khao triển khai nhiều đại dự án về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với quy mô rất lớn. “Đây chính là những nhiệm vụ có sức hút mạnh mẽ đối với các nhà khoa học, chuyên gia quốc tế. Đối với giới trí thức, điều hấp dẫn nhất không chỉ là thu nhập mà còn là cơ hội được tham gia vào những bài toán lớn, được cống hiến và tạo ra giá trị có ý nghĩa.”, GS.VS Nguyễn Quốc Sỹ nhấn mạnh.

Đường lớn đã mở, tầm nhìn đã rõ ràng

Có thể nói, bộ đôi Nghị quyết số 57-NQ/TW và 59-NQ/TW của Trung ương đã thổi một luồng gió mới, định hình một hệ tư duy mang tính kiến tạo và hội nhập sâu sắc cho nền khoa học công nghệ và đổi mưới sáng tạo nước nhà. Hợp tác quốc tế trong giai đoạn mới không còn là câu chuyện của những cái bắt tay ngoại giao trên bàn nghị sự, mà là sự dấn thân, chủ động hòa mình vào dòng chảy tri thức của nhân loại để tìm kiếm những giải pháp đột phá cho quốc gia.

Đường lớn đã mở, tầm nhìn đã rõ ràng. Với một tâm thế chủ động, tự tin và những bước đi thực chất, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng khoa học công nghệ Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc tiếp thu tinh hoa thế giới, mà sẽ từng bước tự chủ, khẳng định trí tuệ Việt trên bản đồ công nghệ toàn cầu, tạo tiền đề vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên của thịnh vượng và bền vững./.

  • Bài: Thanh Hòa - Ảnh: TTXVN

https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/hop-tac-quoc-te-ve-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-duong-lon-da-mo-tam-nhin-da-ro-rang-447299.html


top