Văn hóa

Công nghệ mở lối cho công nghiệp văn hóa Việt

Trong kỷ nguyên số, Việt Nam đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ khi công nghệ không chỉ hỗ trợ bảo tồn di sản mà còn trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, mở rộng không gian sáng tạo và nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia.

Trong kỷ nguyên số, Việt Nam đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ khi công nghệ không chỉ hỗ trợ bảo tồn di sản mà còn trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, mở rộng không gian sáng tạo và nâng tầm sức mạnh mềm quốc gia.

Tại Bảo tàng Hà Nội, các hình thức trình chiếu hiện đại như 3D mapping, màn hình tương tác và dữ liệu số hóa giúp hành trình tham quan trở nên trực quan, sinh động. Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam
Những bức ảnh chụp bằng phim màu về Hà Nội đầu những năm 90 rực rỡ bởi công nghệ ảnh điện tại Bảo tàng Hà Nội.
Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam

Từ “giá trị mềm” đến động lực tăng trưởng

Trong dòng chảy toàn cầu hóa và số hóa, sự kết hợp giữa công nghệ và văn hóa tại Việt Nam đang trở thành một hướng đi mang tính chiến lược. Nếu trước đây, văn hóa chủ yếu được nhìn nhận như một lĩnh vực tinh thần, thì nay đang dần được định vị như một ngành kinh tế có khả năng tạo giá trị gia tăng và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng.

Tại Hội nghị CICON Vietnam 2026 với chủ đề “Tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên AI”, PGS.TS Mạc Quốc Anh - Viện trưởng Viện Kinh tế và Phát triển doanh nghiệp, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố Hà Nội nhận định: “Chúng ta đang đứng trước một thời điểm nghệ thuật không còn là xa xỉ phẩm mà đang trở thành một phần của nền kinh tế”. Điều này phản ánh sự chuyển dịch từ “giá trị mềm” sang “nguồn lực cứng”, nơi công nghiệp văn hóa được kỳ vọng trở thành một trụ cột mới.

Công nghệ hiện đại làm sống dậy không gian di sản về đêm tại khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam
Du khách trải nghiệm tương tác với màn hình cảm biến tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội. Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam
 

 

Các tour đêm tại di tích như Văn Miếu - Quốc Tử Giám đang tạo ra sản phẩm du lịch mới, nơi công nghệ ánh sáng, âm thanh và thực tế ảo mang đến những trải nghiệm khác biệt.

 

Nhìn lại lịch sử, mỹ thuật Việt Nam từng phát triển mạnh vào đầu thế kỷ XX với Trường Mỹ thuật Đông Dương - cái nôi đào tạo nhiều danh họa lớn. Tuy nhiên, chiến tranh kéo dài cùng thời kỳ bao cấp đã khiến thị trường nghệ thuật gần như đình trệ trong nhiều thập kỷ. Chỉ từ sau Đổi Mới 1986, thị trường nghệ thuật mới dần hồi sinh, mở ra một thế hệ sáng tạo năng động và hội nhập hơn.

Hiện nay, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế: nền văn hóa lâu đời, lực lượng sáng tạo trẻ và sự gia tăng nhanh của tầng lớp trung lưu - nhóm khách hàng sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm văn hóa. Theo định hướng quốc gia, công nghiệp văn hóa được kỳ vọng đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 7-9% mỗi năm.

Không gian trưng bày “Chiếu dời đô”.Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam do vua Lý Thái Tổ ban hành vào mùa Xuân năm 1010 tại Bảo tàng Hà Nội, có kết hợp màn hình cảm ứng để tra cứu thông tin.

Thị trường cũng ghi nhận những tín hiệu tích cực. Giai đoạn 2024-2025, số lượng gallery, không gian sáng tạo và nhà đấu giá tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tăng nhanh. Nhiều tác phẩm của các danh họa như Bùi Xuân Phái, Lê Phổ, Nguyễn Tư Nghiêm, Mai Trung Thứ đạt mức giá cao, cho thấy sức hút ngày càng lớn của nghệ thuật Việt.

Không chỉ mỹ thuật, điện ảnh Việt Nam cũng có bước tiến đáng kể. Bộ phim “Mai” đạt hơn 500 tỷ đồng doanh thu trong nước và được phát hành tại hơn 100 rạp ở Mỹ, Canada và châu Âu, khẳng định khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm văn hóa Việt.

Công nghệ “kích hoạt” hệ sinh thái sáng tạo

Công nghệ đang đóng vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi này. Ông Đặng Minh Vệ, Phó Giám đốc Bảo tàng Hà Nội cho biết: “Chuyển đổi số không thay thế giá trị truyền thống mà giúp các câu chuyện văn hóa được truyền tải hấp dẫn và dễ tiếp cận hơn”.
Thay vì lưu trữ hiện vật theo cách truyền thống, các công nghệ như quét 3D, chụp ảnh độ phân giải cao và lưu trữ đám mây đã tạo ra các bản sao kỹ thuật số chính xác. Nhờ đó, việc bảo tồn trở nên bền vững hơn, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cho các nhà nghiên cứu và công chúng.

Thay vì lưu trữ hiện vật theo cách truyền thống, các công nghệ như quét 3D, chụp ảnh độ phân giải cao và lưu trữ đám mây đã tạo ra các bản sao kỹ thuật số chính xác. Nhờ đó, việc bảo tồn trở nên bền vững hơn, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận cho các nhà nghiên cứu và công chúng.

 
Khu trưng bày nghệ thuật múa rối nước tại Bảo tàng Hà Nội được kết hợp cùng máy chiếu để tạo video trực quan giúp du khách dễ dàng cảm nhận.
Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam

Không dừng lại ở bảo tồn, công nghệ đang nâng cao trải nghiệm văn hóa. Tại Bảo tàng Hà Nội, các hình thức trình chiếu hiện đại như 3D mapping, màn hình tương tác và dữ liệu số hóa giúp hành trình tham quan trở nên trực quan, sinh động. Trong khi đó, các tour đêm tại di tích như Văn Miếu - Quốc Tử Giám đang tạo ra sản phẩm du lịch mới, nơi công nghệ ánh sáng, âm thanh và thực tế ảo mang đến những trải nghiệm khác biệt.

Ông Lê Xuân Kiêu, Giám đốc Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám thông tin: “Chương trình tour đêm sẽ tiếp tục được nâng cấp với công nghệ đóng vai trò trung tâm trong việc làm mới cách kể chuyện di sản, qua đó mang lại trải nghiệm hấp dẫn và phù hợp hơn với du khách đương đại”.

Công nghệ 3D mapping tái hiện dòng chảy lịch sử trên từng mái ngói cổ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội.
Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam
 

Những mô hình này đang thu hút mạnh mẽ du khách, đặc biệt là khách quốc tế, khi họ có thể “chạm” vào lịch sử thông qua công nghệ. Đây cũng là cách công nghiệp văn hóa mở rộng không gian lan tỏa, đưa bản sắc Việt ra thế giới.

Khu vực doanh nghiệp cũng góp phần quan trọng. Nhiều công ty công nghệ Việt Nam đã ứng dụng 3D để tái hiện không gian lịch sử, từ phố cổ Hà Nội đến Hoàng thành Thăng Long và các công trình kiến trúc tiêu biểu. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu di sản chuẩn hóa không chỉ phục vụ bảo tồn mà còn tạo nền tảng cho sáng tạo nội dung và phát triển sản phẩm văn hóa trong môi trường số.

Trải nghiệm thực tế ảo đưa du khách “xuyên không” về quá khứ, mở ra hành trình khám phá di sản theo cách hoàn toàn mới.
Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam
Các không gian trưng bày trong bảo tàng Hà Nội đều được bố trí kèm màn hình cảm ứng lớn, du khách chỉ cầm “chạm” và “vuốt” là có thể nghiên cứu toàn bộ thông tin về khu trưng bày. Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam

Trong bối cảnh mới, di sản văn hóa không chỉ là ký ức của quá khứ mà còn là nguồn lực cho tương lai. Khi công nghệ trở thành cầu nối, công nghiệp văn hóa Việt Nam đang từng bước vượt qua giới hạn không gian và thời gian, mở ra một hệ sinh thái sáng tạo năng động, nơi bản sắc dân tộc được bảo tồn và lan tỏa mạnh mẽ trên bản đồ văn hóa toàn cầu./.

Bài: Ngân Hà - Ảnh: Công Đạt/Báo ảnh Việt Nam

https://vietnam.vnanet.vn/vietnamese/long-form/cong-nghe-mo-loi-cho-cong-nghiep-van-hoa-viet-446021.html


top