Không lâu sau Cách mạng Tháng Tám, trong Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Theo bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa, câu nói đó cho thấy chuẩn mực đánh giá nền độc lập không phải chỉ là quốc kỳ, quốc hiệu hay chính quyền, mà trước hết là đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.
Ở phương diện thể chế pháp lý, Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo xây dựng Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước Việt Nam mới. Điều thứ nhất của Hiến pháp khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Đây là sự hiến định rất sớm và tiến bộ về chủ quyền nhân dân cũng như nguyên tắc bình đẳng trong tổ chức quyền lực nhà nước.
Trong bài “Dân vận” năm 1949, Người tiếp tục khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Theo Phó Giáo sư Nguyễn Thị Ngọc Hoa, tư tưởng đó cho thấy nhà nước mới không phải là nhà nước đứng trên nhân dân mà là nhà nước do nhân dân lập nên, chịu sự kiểm tra của nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện với bộ đội chủ lực và dân quân du kích Cao Bằng có nhiều thành tích tham gia Chiến dịch Biên giới năm 1950. Ảnh: TTXVN
Từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Hiến pháp năm 1946 đến các quan điểm về dân vận, xây dựng chính quyền và đạo đức công vụ, Hồ Chí Minh luôn nhất quán nguyên lý: Độc lập dân tộc là điều kiện chính trị tối cao nhưng giá trị hiện thực của độc lập được đo bằng quyền làm chủ và hạnh phúc của nhân dân. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hoa, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” không chỉ là tiêu ngữ trên văn bản hành chính mà còn là hệ giá trị nền tảng, là lời cam kết chính trị - pháp lý của Nhà nước trước nhân dân và là thước đo cao nhất đối với mọi đường lối, chính sách phát triển đất nước.
Bà Ngọc Hoa cho rằng, giá trị cốt lõi của tư tưởng này nằm ở tính bất biến. Trong mọi giai đoạn lịch sử, từ đấu tranh giành độc lập đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân luôn là hai nhiệm vụ song hành. Trong bối cảnh hiện nay, nội hàm của độc lập còn được mở rộng sang năng lực tự chủ về kinh tế, khoa học - công nghệ, an ninh dữ liệu, an ninh văn hóa và khả năng chống lệ thuộc chiến lược trong môi trường quốc tế biến động nhanh chóng.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hoa, quan điểm lấy nhân dân làm trung tâm, làm chủ thể, là nguồn lực và là mục tiêu của phát triển trong đường lối hiện nay chính là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, cải cách hành chính và chuyển đổi số vì người dân, doanh nghiệp là những phương thức hiện thực hóa khát vọng “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” trong điều kiện mới.
Ngày 19/9/1954, tại sân Đền Giếng, trong khu Di tích Hùng, tại núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, Phú Thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các chiến sỹ Đại đoàn quân Tiên phong trước khi đơn vị tiến về giải phóng Thủ Đô: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Ảnh: Đinh Đăng Định - TTXVN
* Tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước
Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Giảng viên Khoa Xây dựng Đảng, Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, thành phố Hà Nội cho rằng, bước chuyển biến quan trọng nhất trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang lập trường cách mạng vô sản diễn ra trong bối cảnh phong trào cứu nước trong nước khủng hoảng về đường lối, còn trên thế giới Cách mạng Tháng Mười Nga vừa thành công.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết, yếu tố quyết định tạo nên bước ngoặt này là khi Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa vào tháng 7/1920. Bản Luận cương đã giải đáp những câu hỏi lớn về con đường giải phóng dân tộc mà Người trăn trở suốt nhiều năm tìm đường cứu nước, khiến Người khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Quốc tế Cộng sản và trở thành người cộng sản.
Chủ tịch Hồ Chí Minh với người dân làng Lidice (Tiệp Khắc), nơi bị tàn phá trong Chiến tranh thế giới thứ II (18/7/1957). Ảnh: TTXVN
Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết cho rằng, Hồ Chí Minh lựa chọn chủ nghĩa Mác - Lênin không bằng cảm tính mà bằng quá trình khảo nghiệm khoa học và thực tiễn sâu sắc. Người nhận ra các cuộc cách mạng tư sản tuy đề cao tự do, bình đẳng nhưng chưa giải phóng triệt để người lao động và các dân tộc thuộc địa. Ngược lại, chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết đáp ứng yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đây là sự lựa chọn khoa học, sáng tạo, mở ra con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội cho cách mạng Việt Nam.
Đánh giá về tư duy độc lập, khả năng tự học và phương pháp tiếp cận thực tiễn của Hồ Chí Minh, Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết nhấn mạnh, đó là tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa yêu nước kết hợp với tinh thần khoa học cách mạng. Người lựa chọn sang phương Tây để tìm hiểu tận gốc bản chất của chủ nghĩa thực dân; tiếp cận lý luận từ thực tiễn lao động và đời sống của giai cấp công nhân quốc tế; đồng thời không ngừng tự học ngoại ngữ, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định, đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đoàn kết gắn bó trong các nước XHCN anh em là cơ sở nền tảng, là nhân tố quan trọng bậc nhất, nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của CNXH trên phạm vi thế giới. Trong ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria, tháng 8/1957. Ảnh: Tư liệu/TTXVN phát
Từ hành trình ấy, theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Ánh Tuyết, bài học lớn nhất đối với đội ngũ cán bộ, trí thức trẻ hôm nay là phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết; đồng thời nuôi dưỡng tinh thần tự lực, tự cường và không ngừng tự học để nắm bắt xu thế thời đại. Mọi tri thức, học thuyết và công nghệ tiên tiến của thế giới khi tiếp thu đều phải được vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, chống giáo điều, rập khuôn, máy móc…/.
Bài: Đỗ Bình - Ảnh: TTXVN