|
|
 Chủ tịch Hồ
Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng họp ngày 6-12-1953 tại
Việt Bắc quyết định mở Chiến dịch Điện Biên
Phủ.
 Chủ tịch Hồ Chí Minh trao nhiệm vụ cho
Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
 Bộ đội hành quân ra mặt
trận.
 Hơn 20.000 xe đạp thồ phục vụ mặt
trận.
 Công binh, dân công, thanh niên xung phong
mở đường Tuần giáo - Điện Biên Phủ.
 Đoàn xe ôtô của Cục vận tải vượt ngầm tiến ra mặt
trận ĐBP.
 Bộ đội Đại đoàn 351 và 312 kéo pháo vào trận
địa.
 Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ họp bàn dưới sự
chủ tọa của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp quyết định
chuyển phương châm “Đánh nhanh, thắng nhanh” sang “Đánh chắc,
tiến chắc” (26-1-1954).
 Chính ủy Đại đoàn 312 trao cờ “Quyết chiến, Quyết
thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho Đại đội 243, đơn vị chủ công
đánh Him Lam.
 Đơn vị pháo phòng không 12,7mm (Đại đoàn 351) khống
chế địch trên không cho quân ta vây lấn áp sát
địch.
 Bộ đội ta reo mừng chiến thắng bên xác máy bay
địch.
 Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) nhanh chóng tiêu diệt
quân địch còn kiểm soát một nửa đồi C1.
 Quân lính Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ lũ lượt ra
hàng.
 Chiến
trường Điện Biên Phủ sau khi trận đánh kết
thúc.
| "Chiến
thắng Điện Biên Phủ là một mốc son chói lọi của dân tộc ta trong cuộc đấu
tranh chống chủ nghĩa thực dân và độc lập tự do trong thế kỷ XX. Đây là
một trong những trận quyết chiến chiến lược lớn, tiêu biểu nhất trong lịch
sử dân tộc, thể hiện đầy đủ nhất sức mạnh của dân tộc và thời đại trong
lịch sử hàng
nghìn năm đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta". Nhân Kỷ niệm 55 năm
chiến thắng lịch sử này, Báo ảnh Việt Nam xin giới thiệu lại với quí độc giả bài viết
"Chiến thắng Điện Biên Phủ - sức mạnh chính trị tinh thần và sức
mạnh của trí tuệ Việt Nam" của cố Thượng tướng - Giáo sư Hoàng Minh Thảo viết
cho Báo ảnh Việt Nam nhân dịp Kỷ niệm 50 chiến thắng Điện Biên Phủ
(7/5/1954-7/5/2004).
Sau hơn bảy năm
tiến hành chiến tranh xâm lược Việt
Nam
, thực
dân Pháp đã bị thiệt hại hơn 30 vạn binh lính và sĩ quan. Các kế hoạch
Lơcơléc, Valuy đến Đácgiănglia, Bôla, Phinhông, Rơve, Tatixinhi theo nhau
phá sản. Người Pháp lúc nào cũng như phải làm lại từ đầu. Cuộc chiến tranh
không trận tuyến của thế trận chiến tranh nhân dân Việt
Nam
đánh cả ở đằng
trước mặt địch và đằng sau lưng địch; cả ở nông thôn và thành phố đã làm
cho quân Pháp mệt mỏi, suy yếu. Chính phủ Pháp theo đó mà dựng lên đổ
xuống 17 lần, năm Cao ủy và sáu viên Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông
Dương lần lượt bị triệu hồi.Nhờ có
đường lối chiến tranh nhân dân trong sự kết hợp hai phương thức tiến hành
chiến tranh là: chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, từ thế bị
động quân và dân ta đã chuyển dần sang thế chủ động, liên tiếp giành được
nhiều thắng lợi.
Trước
những thất bại liên tiếp đó ở Đông Dương, dư luận Pháp ngày càng chán ngán
với cuộc chiến tranh này. Bế tắc và lúng túng, Chính phủ Pháp không còn
muốn tiếp tục cuộc chiến tranh quá tốn kém và vô vọng, nhưng cũng chưa
muốn nhường chỗ cho người Mỹ nhảy vào. Họ cho rằng một giải pháp tốt nhất
lúc này là dùng sự giúp đỡ tiền bạc và vũ khí của Mỹ, để rút ra khỏi cuộc
chiến tranh bằng một “lối thoát danh dự” trên bàn đàm phán.Ngày
7-5-1953 với sự thỏa thuận của Mỹ, Thủ tướng Pháp Rênê Maye đã cử tướng
bốn sao Nava thay tướng Xalăng sang cầm đầu đạo quân viễn chính Pháp ở
Đông Dương. Kế hoạch Nava được ra đời trong hoàn cảnh đó nhằm cứu vãn danh
dự cho nước Pháp.Chọn Điện
Biên Phủ là chọn địa bàn chiến lược rồi trở thành điểm quyết chiến chiến
lược của ta là chính xác.Kế hoạch
chiến lược của ta là nhằm chia cắt địch, phân tán địch, hoạt động mạnh ở
các chiến trường khác, ở những chỗ địch sơ hở, không thể bỏ, tất phải cứu.
Muốn mưu kế được thực hiện thì phải nghi binh, lừa địch, điều động
địch.Để hạn chế
các lực lượng cơ động của địch – một thủ đoạn tác chiến lợi hại có hiệu
lực của địch - thì ta phải phân tán các lực lượng cơ động đó của địch ra
các chiến trường khác, bảo đảm không có thể cơ động nhiều lực lượng ứng
cứu cho Điện Biên Phủ có thế mới bảo đảm chắc thắng cho Điện Biên
Phủ.Nhờ mưu kế
đó ta đã điều động khoảng 70 tiểu đoàn cơ động trên tổng số 84 tiểu đoàn
cơ động địch ra các chiến trường trên toàn Đông Dương.
Tại chiến
trường chính Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy chiến dịch (bộ phận đi trước), đề
ra kế hoạch với phương châm “đánh nhanh, thắng nhanh” quyết tâm tiêu diệt
tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ chỉ 2 ngày 3 đêm trong điều kiện địch còn
đang phòng ngự lâm thời.
Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp chỉ huy
trưởng chiến dịch đi sau. Nhưng vì mới đến, sau khi nghe báo cáo, mặc
dù rất phân vân, ông chưa có đủ yếu tố để bác bỏ
phương án đã chọn của bộ phận đi trước bởi nó rất khác với suy
tính của ông trước đó đã báo cáo gửi lên Bộ Chính trị và Hồ Chủ
tịch.
Sau khi nghiên cứu kỹ thực tế
chiến trường, Đại tướng khẳng định “nếu đánh nhanh thắng nhanh thì tổn
thất sẽ rất lớn, chắc chắn sẽ thất bại”. Thấm nhuần tư tưởng chỉ đạo của
Chủ tịch Hồ Chí Minh “chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”,
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quả cảm quyết đoán đề nghị thay đổi phương
châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”,
sau đó chuyển đội hình bố trí lại lực lượng. Phương châm tác chiến của ông
đã được Thường vụ Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch phê chuẩn.Mặc dù
trận địa đã được bố trí, pháo lớn đã kéo lên vị trí chiến đấu với bao công
sức, xương máu. Nhưng ông vẫn quyết tâm cho đưa pháo ra, rồi lại kéo vào
vị trí tác chiến mới.
Trong
chiến dịch Điện Biên Phủ, địch đã ở vào thế cô lập, cố thủ trong một thung
lũng bị ta bao vây tiến công từ bốn phía ở trên cao. Ta đã xây dựng cả một
hệ thống giao thông hào, một hệ thống trận địa tấn công và bao vây tạo
điều kiện cho bộ đội triển khai vận động tiến công. Đây là lần đầu tiên
quân ta tiến hành bao vây, tiến công một tập đoàn cứ điểm trong điều kiện
quân Pháp có vũ khí trang bị hiện đại hơn ta. Cùng với việc triệt phá các
nguồn lực của địch: pháo binh, xe tăng và máy bay chi viện, bằng hệ thống
hầm hào trận địa với chiến thuật “vây lấn, triệt phá” quân ta từng bước
thắt chặt vòng vây, tạo thành ưu thế ở từng không gian và thời gian chiến
dịch, đã tạo nên sức mạnh to lớn trong quá trình tiến công để tiêu diệt
hoàn toàn tập đoàn cứ điểm để giành thắng lợi.
Cách đánh
của chiến dịch là đột phá liên tục, lần lượt kết hợp với vây lấn. Đánh
công sự vững chắc là phải đột phá thì mới phá vỡ được công sự của địch,
tiêu diệt được địch. Nhưng ta phải đột phá liên tục để địch không có thời
gian chống cự; nhưng lại phải lần lượt vì cả chiến dịch là đội hình rất
lớn, rất phức tạp nên phải có một ít thời gian để điều chỉnh đội hình,
chuyển hóa thế trận tiến công; và vì ta phải kết hợp với vây lấn nên phải
tổ chức chiến hào, giao thông hào như thế mới bảo đảm được sức chiến đấu,
và có bàn đạp tốt để tiến công vào các cứ điểm của địch một cách vững
chắc, áp sát vào vị trí của địch, đỡ thương vong về phi pháo.
Đó là nói
về cách đánh. Còn về hình trận và thế trận là, vây hai phía đông tây tập
đoàn cứ điểm ở trên cao, phá vỡ thế phòng ngự của địch ở dưới thấp, phá vỡ
vành phòng ngự tuyến ngoài để tiến vào chiều sâu bên trong, vào sở chỉ huy
chiến dịch ở dưới thấp và vây lấn sân bay, ép dần vào sân bay hạn chế đi
đến cắt đứt tiếp tế của địch bằng máy bay, con đường tiếp tế duy nhất và
hy vọng cuối cùng của địch.
Nghệ thuật tác chiến đó phù hợp với điều kiện Việt Nam. Hình trận
và thế trận đó cũng thể hiện tài thao lược về “dĩ đoản chế trường” của
truyền thống Việt Nam.
Do ta kém về vũ khí đột phá như
máy bay, xe tăng, pháo binh nên phải dùng cách đánh đó. Cách đánh đó phải
kéo dài thời gian. Sau này trong chiến dịch Hồ Chí Minh, sức đột phá, chọc
sâu của ta mạnh, nên ta chỉ đánh có mấy ngày là giải phóng Sài Gòn. Giải
quyết mâu thuẫn trong mối liên hệ giữa các sự vật và hành động phù hợp với
thực tế là biện chứng, là sáng tạo, là chỉ huy có phương pháp luận.
Một điều rất hay và sáng tạo là
lần đầu tiên ở Việt Nam và cũng là rất hiếm ở trên thế giới, ta đã cho kéo
pháo lên núi cao, đặt vào hầm chĩa thẳng pháo xuống đầu kẻ địch ở dưới
thấp mà chế áp. Với cách đánh này, vừa bảo vệ được pháo, vừa nâng cao được
uy lực và mức chính xác. Pháo của ta kéo vào gần mục tiêu của địch có 5km
và 7km. Thường pháo 105 ly bắn xa tới 10km đến 11km. Ta kéo pháo vào gần,
bắn gần như thế thì chính xác hơn, ít tốn đạn hơn, khoảng 2 đến 3 viên đạn
là trúng trung tâm mục tiêu. Bắn xa có thể đến 7 viên và sức mạnh, sức phá
hoại của bắn gần cũng lớn hơn. Ta ở trong hầm an toàn hơn, có thể chống
được bom đạn của địch. Do pháo ta bắn gần, bắn trúng dù ít pháo đạn hơn
địch, lại ở trên cao có thể khống chế được pháo địch rất có hiệu quả, đến
mức khiến cho viên chỉ huy pháo binh của Pháp là Pirốt bất ngờ hoảng loạn
mà phải tự sát.
 17 giờ 40 phút ngày 7-5-1954,
bộ đội ta đã cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” trên nóc hầm Tướng De
Castries.
Thắng lợi
của Điện Biên Phủ là thắng lợi của chiến tranh nhân dân trên toàn quốc với
các trận đánh vang dội, tiến công vào sân bay Gia Lâm, sân bay Cát Bi,
đường 5, đường sắt – Hà Nội, và khắp các chiến trường phân tán địch trên
toàn Đông Dương. Ở Điện Biên Phủ ta tiêu diệt và bắt sống 1,6 vạn quân,
còn toàn Đông Dương tiêu hao 20 vạn quân địch. Thắng lợi của chiến dịch
Điện Biên Phủ là kết quả chung của thắng lợi toàn Đông Dương.
Điện Biên
Phủ như một Xương Giang – Bạch Đằng – Chi Lăng – Đống Đa, Điện Biên Phủ đã
ghi thêm một trang sử vàng hào hùng và oanh liệt của dân tộc
ta.
Thắng lợi
đó đã đem lại niềm tin mãnh liệt, mở ra một kỷ nguyên mới cổ vũ phong trào
giải phóng dân tộc đang dâng cao mạnh mẽ trên toàn thế giới, nhất là ở lục
địa châu Phi, đã tạo nên phản ứng dây chuyền không những dẫn đến độc lập ở
các thuộc địa Pháp mà còn cho các dân tộc đang bị áp bức khác.
Đó là tinh
thần bất khuất quật cường của một dân tộc quyết chống giặc ngoại xâm, như
lời Hồ Chủ tịch đã khẳng định: “Lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam tỏ
cho ta biết rằng: Hễ một dân tộc đã đứng lên kiên quyết đấu tranh cho Tổ
quốc họ thì không ai, không một lực lượng gì chiến thắng được họ”(*). Đó
là thắng lợi của văn hóa Việt Nam, văn hóa Hồ Chí Minh.
|
Điện Biên Phủ có vị trí
chiến lược quân sự rất quan trọng có thể khống chế cả vùng rộng lớn
Tây Bắc và Thượng Lào. Quân Pháp đã tập trung ở đây 16.200 quân gồm
21 tiểu đoàn, trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo
binh, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội không
quân, 1 đại đội vận tải cơ giới. Đây là toàn bộ lính dù và 40% lực
lượng cơ động tinh nhuệ nhất của Pháp tại Đông Dương. Lực lượng này
được bố trí thành 3 phân khu Bắc, Trung, Nam với 49 cứ điểm. Điện
Biên Phủ trở thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông
Dương. |
|
17 giờ ngày 13-3-1954
quân ta nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Trong đợt tiến công thứ
nhất (từ 13 đến 17-3-1954) quân ta đã tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam
và Độc Lập, bức hàng cứ điểm Bản Kéo, phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của
tập đoàn cứ điểm địch.
Trong đợt tiến công thứ
hai từ ngày 30-3-1954, quân ta thắt chặt vòng vây, chia cắt và liên
tục tiến công địch, buộc địch rơi vào tình trạng cố thủ bị động, bị
tiêu hao sinh lực, mất tinh thần cao độ.
Từ ngày 1-5 – 7-5-1954,
quân ta mở đợt tiến công thứ 3, tiêu diệt toàn bộ tập đoàn cứ điểm
Điện Biên Phủ. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi.
Ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.200 quân địch, bắn cháy 62 máy bay,
thu và phá hủy toàn bộ vũ khí, đạn dược và phương tiện chiến tranh
của địch. |
Bài: Cố Thượng tướng – Giáo sư
Hoàng Minh Thảo
(*) Hồ Chí Minh – toàn tập, trang
409, NXB Chính trị Quốc gia
11-1995.
|